Trong những năm đế quốc Mỹ thực hiện chiến dịch "Sấm rền" đánh phá miền Bắc (cao điểm từ tháng 3/1965 đến cuối tháng 10/1968), các mục tiêu quân sự, kinh tế cùng nhiều cơ sở công nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng liên tục bị đánh phá ác liệt nhằm phá hủy tiềm lực kinh tế, cắt đứt tuyến chi viện từ miền Bắc vào miền Nam.
Hệ thống lưới điện cấp cho các phụ tải trọng điểm cũng trở thành mục tiêu đánh phá. Thế nhưng, dưới làn bom đạn khốc liệt, những tuyến điện bị hư hỏng vẫn nhanh chóng được khôi phục, kịp thời đáp ứng yêu cầu sản xuất và lưu thông.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về những ngày bám trụ với từng cột điện, từng đường dây để giữ cho dòng điện không bị gián đoạn vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí những người trong cuộc.
Những hồi ức được kể lại sau hơn nửa thế kỷ không chỉ giúp tái hiện một giai đoạn đầy gian khó mà còn cho thấy tinh thần trách nhiệm, ý chí và sự cống hiến của những người thợ điện Thủ đô trong những năm tháng chiến tranh.
Nhắc lại những năm tháng ấy, điều những người thợ điện năm ấy nhớ đến trước tiên không phải là sự khốc liệt của bom đạn, mà là những phụ tải trọng điểm phải bằng mọi giá giữ cho dòng điện không bị gián đoạn.
Theo lời kể của bác Nguyễn Ngọc Huấn (1950), nguyên Chủ tịch công đoàn Tổng Công ty Điện lực Hà Nội và bác Dương Văn Mích (1947), nguyên Chủ tịch Công đoàn Công ty Điện lực Hai Bà Trưng - những “cựu binh” của Sở quản lý phân phối điện Thủ đô - thì thời điểm những năm 1960-1970, hệ thống lưới điện cao thế của Thủ đô mới chỉ đến cấp điện áp 35kV, nhưng là nguồn điện lớn, quan trọng cho sản xuất và đời sống.
Ngày đó, lưới điện 35kV kết nối từ Nhà máy điện Yên Phụ đến “Trạm trung gian Mai Động”, từ đây có hai lộ đường dây cấp điện cho Nhà máy Dệt 08/3 và các nhà máy như Cơ khí Thuỷ lợi, Phân Lân Văn Điển, Pin Văn Điển, Kho 6, Ga Văn Điển... Các cơ sở công nghiệp này nhiều thời điểm bị bom Mỹ đánh phá suốt ngày đêm. Chúng đánh vào hệ thống điện hòng làm tê liệt sản xuất nên lưới điện bị hư hỏng rất nặng nề.
Hiểu được tầm quan trọng của việc cấp điện cho các phụ tải quan trọng này, được cấp tấm phù hiệu “Phòng không nhân dân” nên những người thợ điện tăng thêm niềm tự hào khi được giao nhiệm vụ.
Bác Huấn nhớ lại: “Với những hộ phụ tải trọng điểm, phải đảm bảo điện liên tục cho họ. Có nghĩa, khi họ bị đánh phá xong phải làm sao khắc phục nhanh nhất, đóng điện nhanh nhất. Chúng tôi chỉ tâm nguyện là khi được giao nhiệm vụ thì làm nhanh nhất để khôi phục lại điện.
Chúng tôi được trang bị chiếc phù hiệu “Phòng không nhân dân”/nghĩa là được đi vào những khu vực vừa bị đánh phá. Khi bắt đầu có còi báo động thì lực lượng này được đi trên đường, được đến nơi trực để tập trung chuẩn bị cho khắc phục hậu quả, giải quyết sự cố.
Thế nên, cứ khi có tiếng còi báo động ở đâu thì kể cả đêm hôm, ở nhà cũng phải đến. Còn đang trên đường đi làm ban ngày - theo giờ hành chính thì có báo động là phải về trụ sở làm việc ngay. Khi máy bay vào đánh phá xong, chúng tôi phải đi nắm tình hình và có biện pháp khắc phục ngay những tuyến đó. Trong tâm trí của chúng tôi khi đó chỉ có làm sao để hoàn thành nhiệm vụ thôi, không có sợ hãi gì...”.
Chiếc kìm cắt sắc bén luôn trong túi. Chiếc “tô-vít” cán gỗ được cất giữ cẩn thận bên người. Những chiếc thang tre đa năng lúc thì làm cột, khi lại làm thang. Không có nó không dựng được cột. Nhưng khi cột gãy đổ, thang lại được tranh thủ dùng làm cột tạm để khắc phục ngay các sự cố do bom đạn dội vào làm gián đoạn đường dây… Không sợ hãi. Không quản khó khăn nguy hiểm, ngay sau khi lưới điện bị bom đạn đánh phá là họ nhanh chóng lên đường để khắc phục các sự cố, để làm sao cấp điện nhanh nhất.
Nhớ lại những ngày tháng năm ấy, bác Dương Văn Mích kể: “Khắc phục vất vả quá, mệt chứ, sức con người có hạn, có khi hàng chục ngày đêm, mỗi ngày chỉ ngủ được mấy tiếng thôi. Có những cao điểm địch đánh phá một ngày không biết bao nhiêu lần, một lúc lại báo động máy bay địch cách Hà Nội bao nhiêu km…
Đêm hôm liên tục đi khắc phục. Thế nên, nhiều lúc anh em mệt quá, ngủ ngồi trên cột, nhiều người mệt quá dựa lưng vào cột ngủ… Vất vả, gian khổ vậy nhưng ai không được tham gia là cảm thấy mình chưa hoàn thành nhiệm vụ, như thể không được tổ chức tín nhiệm…”.
Lời thề quyết tử “Tim ngừng đập, máu ngừng chảy nhưng dòng điện không bao giờ tắt” dường như đã ngự trị trong từng hơi thở của những thợ điện ngày ấy, và cho đến bây giờ.