Khoản 3 Điều 11 dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) quy định về các trường hợp thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư. Theo đó, người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư mà thuộc một trong các trường hợp sau thì bị thu hồi Chứng chỉ: Không còn đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định; Được tuyển dụng, bổ nhiệm làm cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, trừ viên chức giữ ngạch giảng viên tại cơ sở đào tạo về pháp luật;
Không còn thường trú tại Việt Nam; Không hành nghề luật sư theo một trong các hình thức hành nghề quy định tại Luật này trong thời gian 12 tháng liên tục
Thôi hành nghề luật sư theo nguyện vọng; Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn Luật sư; Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường;
Bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật; Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Kiêm nhiệm công chứng viên, thừa hành viên…
Như vậy, so với quy định hiện hành tại Điều 18 Luật Luật sư 2006, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã bổ sung trường hợp thu hồi Chứng chỉ hành nghề Luật sư sau 12 tháng không hành nghề.
Về hình thức hành nghề, dự thảo Luật Luật sư sửa đổi nêu rõ, luật sư Việt Nam được lựa chọn 1 trong 3 hình thức: Thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; Làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam hoặc tổ chức hành nghề luật sư ở nước ngoài; Hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định của luật.
Luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam được lựa chọn 1 trong 2 hình thức: Làm việc với tư cách thành viên tại chi nhánh hoặc công ty luật nước ngoài tại Việt Nam; Làm việc theo hợp đồng lao động cho chi nhánh, công ty luật nước ngoài tại Việt Nam hoặc tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam.
Có thể nói, quy định luật sư không hành nghề luật sư trong thời gian 12 tháng liên tục bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề nhằm siết chặt tình trạng luật sư có tên trong danh sách hành nghề nhưng không thực sự hoạt động sẽ gây nên tình trạng thiếu hụt về kiến thức, tư duy pháp lý, không nắm bắt được những thay đổi, cập nhật của luật pháp. Tuy vậy nội dung này cũng đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều.
Một số luật sư cho rằng, quy định có thể gây rào cản lớn với luật sư nữ, đặc biệt trong giai đoạn thai sản, nuôi con nhỏ. Bởi Bộ luật Lao động 2019 cho phép lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng.
Bên cạnh đó, mốc thời gian 12 tháng như dự thảo đề xuất còn hạn chế cơ hội với những luật sư muốn có thời gian tạm nghỉ hành nghề để học nâng cao kiến thức chuyên môn, tham gia các khóa học tập tại nước ngoài…
Ngoài ra, quy định này cũng chưa phù hợp đối với trường hợp người có chứng chỉ hành nghề luật sư gặp biến cố bất khả kháng như sức khỏe, gia đình, dịch bệnh...
Do vậy, để đạt được mục đích đề ra, cơ quan soạn thảo cần xem xét điều chỉnh mốc thời gian là 24 tháng hoặc 36 tháng liên tục luật sư không hành nghề thì mới xem xét thu hồi chứng chỉ hành nghề. Đồng thời, có cơ chế riêng với các trường hợp đặc biệt như nghỉ thai sản theo chế độ, điều trị bệnh có xác nhận của cơ sở y tế, trường hợp bất khả kháng …