Chiều nay, 6-8, Quốc hội thảo luận ở tổ về: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; Dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), của Tòa án nhân dân (TAND) và công tác thi hành án…
Tại tổ Hà Nội, đại biểu Nguyễn Xuân Kỳ - Chánh án TAND thành phố Hà Nội cho biết, với quy định về tỷ lệ giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính; giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại Điều 4 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, TAND tối cao thống nhất đề nghị Quốc hội xem xét không quy định chỉ tiêu mang tính định lượng mà chuyển sang giám sát kết quả hoạt động của các cơ quan tư pháp theo tiêu chí chất lượng và thời hạn giải quyết.
Các lý do được Chánh án TAND TP Hà Nội đưa ra gồm: việc quy định tỷ lệ giải quyết, xét xử các vụ án, vụ việc cố định có thể dẫn đến cơ quan tố tụng chỉ chạy theo tỷ lệ giải quyết, ảnh hưởng đến chất lượng của bản án, quyết định;
Mặt khác, số lượng vụ án, vụ việc mà Tòa án hiện phải giải quyết đã tăng gần gấp đôi so với thời điểm ban hành Nghị quyết số 96/2012/QH14 và ngày càng phức tạp, trong khi biên chế của ngành Tòa án giữ nguyên từ năm 2012 và tiếp tục phải cắt giảm gần 1,200 biên chế trong năm 2026, dẫn đến sự quá tải của các Thẩm phán trong giải quyết vụ án, vụ việc;
Khi thực hiện mô hình Tòa án 3 cấp, khối lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm từ 03 Tòa cấp cao chuyển lên TAND tối cao là rất lớn. Riêng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm về dân sự tính đến 31-7-2026 đã thụ lý trên 18.893 đơn, tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước. Do đó, mặc dù đang triển khai các giải pháp rất quyết liệt nhưng TAND tối cao đang gặp rất nhiều khó khăn để vừa đảm bảo chỉ tiêu của Nghị quyết vừa phải đảm bảo chất lượng giải quyết.
Hơn nữa, thực tiễn giải quyết các vụ án, vụ việc cho thấy nhiều vụ án, vụ việc thời gian giải quyết kéo dài do nhiều nguyên nhân khách quan. Việc quy định chỉ tiêu tỷ lệ giải quyết tuy về mặt hình thức là động lực để phấn đấu nhưng có thể dẫn tới việc Thẩm phán và Tòa án vì chạy theo chỉ tiêu thành tích mà có thể ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc.
Vị ĐBQH là Chánh án TAND TP Hà Nội cũng đề nghị giữ nguyên tỷ lệ án bị hủy, sửa như Nghị quyết số 96/2019/QH14 nhưng tính trên tổng số các bản án, quyết định mà Thẩm phán đã giải quyết.
Đồng thời, ông góp ý chỉnh lý điểm b khoản 1 Điều 4 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội theo hướng: “Hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan; bảo đảm tổng số các bản án và quyết định bị hủy và sửa do lỗi chủ quan không vượt quá 1,5% trên tổng số các bản án, quyết định mà Tòa án đã giải quyết”.
Cũng tại tổ Hà Nội, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tham gia góp ý vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Ông cho biết, Điều 2, Khoản 1 của dự thảo Luật (Sửa đổi Khoản 7 Điều 3 Luật Phòng, chống rửa tiền) quy định: Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát “toàn diện” trên thực tế đối với khách hàng...
Tuy nhiên, đại biểu nhận thấy, quy định này chưa thống nhất với quy định đặc thù và định nghĩa pháp lý tại Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP ngày 24/7/2026 của Chính phủ về các cơ chế đặc thù tháo gỡ vướng mắc trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền phục vụ cam kết quốc tế về thuế.
Mặt khác, khái niệm then chốt của chống rửa tiền quốc tế theo chuẩn mực FATF là xác định người có quyền kiểm soát cuối cùng - tức là người thực tế chi phối dòng tiền đằng sau các chuỗi pháp nhân trung gian. Trong khi đó, từ “toàn diện” mang hàm ý sở hữu tuyệt đối hoặc gần như 100% quyền kiểm soát.
“Trong thực tế, các đối tượng rửa tiền chỉ cần sở hữu một tỷ lệ chi phối (từ 25% vốn điều lệ trở lên theo Nghị quyết 66.23) hoặc thông qua các thỏa thuận ngầm là đã có quyền quyết định hoạt động của doanh nghiệp. Nếu dự thảo giữ nguyên từ toàn diện, các đối tượng rửa tiền sẽ dễ dàng lách luật bằng cách chia nhỏ tỷ lệ sở hữu dưới mức tuyệt đối để không bị coi là kiểm soát "toàn diện", từ đó né tránh được việc nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi” – đại biểu Hồng Hà phân tích.
Trên cơ sở đó, vị đại biểu đoàn Hà Nội kiến nghị thay thế từ “toàn diện” bằng từ “cuối cùng” tại khoản 7 Điều 3 Luật Phòng, chống rửa tiền.