Hạ tầng phải đi trước một bước
Nhìn lại chặng đường phát triển thời gian qua có thể thấy, đầu tư kết cấu hạ tầng đã trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Ngành xây dựng ước tăng trưởng trên 9%, đóng góp khoảng 17,1% GDP, tương đương khoảng 1,96 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP chung. Hệ thống giao thông quốc gia có bước phát triển mạnh mẽ. Đến hết năm 2025, cả nước đã đưa vào khai thác 3.345 km tuyến chính cao tốc cùng 458 km nút giao và đường dẫn. Năng lực cảng biển, cảng hàng không cũng được nâng lên đáng kể. Tổng năng lực hệ thống cảng biển tăng từ khoảng 730 triệu tấn năm 2020 lên 930 triệu tấn; công suất hệ thống cảng hàng không tăng từ 92,4 triệu lên khoảng 155 triệu hành khách mỗi năm. Sự phát triển của hạ tầng giao thông góp phần kéo giảm chi phí logistics từ khoảng 21% năm 2018 xuống còn khoảng 17%, qua đó cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Những con số ấy cho thấy hạ tầng không đơn thuần là những con đường, cây cầu, nhà ga hay cảng biển. Mỗi tuyến cao tốc hoàn thành có thể mở thêm một không gian phát triển; mỗi cảng nước sâu được đầu tư có thể mở rộng cánh cửa giao thương quốc tế; mỗi tuyến đường sắt, sân bay, trung tâm logistics được kết nối đồng bộ có thể tạo ra một chuỗi giá trị mới.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, yêu cầu “đi trước một bước” của hạ tầng càng trở nên cấp thiết. Không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nếu hàng hóa phải mất quá nhiều thời gian và chi phí để lưu thông; doanh nghiệp không thể nâng cao năng lực cạnh tranh nếu thiếu điện, nước, logistics, hạ tầng số và các khu công nghiệp được kết nối thuận lợi; cũng không thể xây dựng những đô thị đáng sống nếu giao thông, thoát nước, xử lý chất thải, nhà ở và các dịch vụ công không phát triển tương xứng. Vì vậy, tư duy về hạ tầng phải chuyển từ “đáp ứng nhu cầu hiện tại” sang “kiến tạo năng lực phát triển tương lai”. Đây cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với công tác quy hoạch.
Một trong những “điểm nghẽn” cần được khắc phục là tình trạng quy hoạch chưa thực sự tạo ra không gian phát triển mới mà có lúc vẫn thiên về xử lý những ách tắc đã phát sinh. Khi dân số tăng, phương tiện tăng mới mở đường; khi ùn tắc nghiêm trọng mới tính đến giao thông công cộng; khi khu công nghiệp hình thành mới lo kết nối; khi đô thị quá tải mới bổ sung hạ tầng xã hội. Cách làm đó không chỉ làm tăng chi phí mà còn khiến nhiều cơ hội phát triển bị bỏ lỡ.
Phát triển nhanh nhưng phải bền vững
Có thể khẳng định, đổi mới quy hoạch trước hết phải là đổi mới tư duy. Quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn, ổn định, có khả năng dự báo những thay đổi lớn về dân số, đô thị hóa, công nghệ, biến đổi khí hậu, chuyển dịch sản xuất và dòng chảy thương mại quốc tế. Quy hoạch giao thông phải gắn với quy hoạch đô thị, công nghiệp, logistics, cảng biển, sân bay và các trung tâm kinh tế. Quy hoạch sử dụng đất phải tính đến nhu cầu phát triển hạ tầng trong nhiều thập niên, thay vì chỉ giải quyết yêu cầu của một giai đoạn. Đặc biệt, quy hoạch phải thực sự trở thành công cụ phân bổ nguồn lực. Nơi nào được xác định là hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, trung tâm logistics hay vùng động lực thì hạ tầng phải được ưu tiên tương ứng. Ngược lại, những dự án không nằm trong tổng thể kết nối hoặc không tạo ra hiệu quả lan tỏa cần được cân nhắc kỹ, tránh đầu tư dàn trải, manh mún. Quy hoạch cũng phải chuyển mạnh sang phương thức quản trị dựa trên dữ liệu. Với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ số, việc mô phỏng dòng giao thông, dự báo nhu cầu năng lượng, dân số, nhà ở, nước sạch hay xử lý chất thải đã có thể được thực hiện với độ chính xác ngày càng cao. Một nền quy hoạch hiện đại không thể thiếu cơ sở dữ liệu dùng chung, bản đồ số và các mô hình dự báo cập nhật liên tục.
Một yêu cầu quan trọng là cần nhìn nhận hạ tầng như một hệ sinh thái thống nhất, thay vì những công trình riêng lẻ. Một tuyến cao tốc sẽ không phát huy hết hiệu quả nếu thiếu đường kết nối đến cảng biển, sân bay, khu công nghiệp và trung tâm logistics. Một sân bay hiện đại cũng khó trở thành động lực tăng trưởng nếu thiếu đường sắt, đường bộ và các dịch vụ đô thị hỗ trợ. Cùng với hạ tầng vật chất phải đặc biệt coi trọng hạ tầng số và hạ tầng tự nhiên. Hạ tầng số là nền móng của kinh tế số, chính phủ số và xã hội số; còn hạ tầng tự nhiên gồm hệ thống sông ngòi, hồ điều hòa, rừng, không gian xanh, vùng ngập nước… chính là “lá chắn” giúp các đô thị và nền kinh tế thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cần thay đổi trong tư duy phát triển. Một con đường hiện đại không chỉ cần rộng và nhanh mà còn phải xanh, an toàn, thông minh, chống chịu tốt trước thiên tai. Một đô thị hiện đại không chỉ có những tòa nhà cao tầng mà phải có giao thông công cộng hiệu quả, không gian xanh, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải và chất thải, cùng khả năng thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Phát triển hạ tầng đòi hỏi nguồn vốn khổng lồ, trong khi ngân sách Nhà nước có giới hạn. Vì vậy, cùng với tăng hiệu quả đầu tư công phải chuyển mạnh từ tư duy “huy động vốn” sang “khơi thông và nuôi dưỡng nguồn lực”. Nhà nước phải giữ vai trò kiến tạo, định hướng và dẫn dắt. Nhà nước không nhất thiết làm tất cả, nhưng phải tạo ra luật chơi minh bạch, ổn định, có khả năng chia sẻ rủi ro hợp lý để thu hút khu vực tư nhân và các nhà đầu tư quốc tế. Nguồn lực xã hội chỉ được khơi thông khi nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội, sự minh bạch và khả năng dự báo dài hạn.
Một quốc gia muốn vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu không thể mãi phụ thuộc vào công nghệ và nhà thầu nước ngoài trong những dự án hạ tầng chiến lược. Vì vậy, đột phá hạ tầng phải gắn với đột phá khoa học - công nghệ và phát triển doanh nghiệp Việt Nam. Mục tiêu làm chủ dần từ công nghệ thi công, vận hành, bảo trì tiến tới thiết kế, sản xuất linh kiện, vật tư không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là vấn đề năng lực tự chủ quốc gia. Cùng với đó là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Những công trình hiện đại đòi hỏi kỹ sư, kiến trúc sư, chuyên gia quy hoạch, chuyên gia dữ liệu, công nghệ vật liệu, quản trị dự án và tài chính hạ tầng có trình độ quốc tế. Đầu tư cho con người vì thế phải đi cùng đầu tư cho công trình.
Đổi mới quy hoạch và phát triển hạ tầng phải gắn chặt với yêu cầu phát triển xanh, bền vững và bao trùm. Hạ tầng phải phục vụ con người, doanh nghiệp và nền kinh tế; không thể đánh đổi môi trường, chất lượng sống hay công bằng xã hội để lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Mọi dự án lớn cần được đánh giá cả về hiệu quả kinh tế, tác động môi trường, khả năng chống chịu và lợi ích xã hội trong dài hạn.
Trong kỷ nguyên vươn mình, chúng ta cần một hệ thống hạ tầng không chỉ nhiều hơn mà quan trọng hơn là thông minh hơn, đồng bộ hơn, xanh hơn và hiệu quả hơn. Đó phải là hệ thống có khả năng kết nối mọi vùng miền, kết nối đô thị với nông thôn, kết nối các cực tăng trưởng trong nước với thị trường quốc tế và kết nối nền kinh tế vật chất với nền kinh tế số. Khi quy hoạch đi trước, hạ tầng đồng bộ, nguồn lực được khơi thông, công nghệ được làm chủ và người dân được đặt ở vị trí trung tâm, hạ tầng sẽ không còn chỉ là “điều kiện cần” của tăng trưởng mà trở thành một động lực tăng trưởng mới. Đó chính là nền tảng để Việt Nam thực hiện khát vọng tăng trưởng hai con số, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tiến nhanh, vững chắc trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao.