Cụ thể, khoản 1 Điều 30 Văn bản hợp nhất 73/2026/VBHN-NĐ-BNNMT quy định, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 250 triệu đồng; đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 3 tháng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này.
Ngoài ra, theo khoản 4 Điều 5 Văn bản hợp nhất, mức phạt tiền theo thẩm quyền nêu trên được áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Tổ chức có cùng hành vi vi phạm bị áp dụng mức phạt tiền gấp 2 lần so với cá nhân.
Như vậy, từ ngày 31/8/2026, Chủ tịch UBND cấp xã có thể phạt tiền đến 250 triệu đồng đối với cá nhân và tới 500 triệu đồng với tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Ngoài phạt tiền, Chủ tịch UBND cấp xã còn được đình chỉ hoạt động tư vấn có thời hạn 3 tháng, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc đăng ký đất đai; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm; buộc trả lại đất; buộc chấm dứt hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm.
Không chỉ có vậy, người có thẩm quyền còn có thể buộc người vi phạm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính; nộp hồ sơ để làm thủ tục chuyển sang thuê đất; đưa đất vào sử dụng; cung cấp lại thông tin, giấy tờ, tài liệu về đất đai hoặc thực hiện lại thủ tục hành chính. Quy định trên được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 281/2026/NĐ-CP.
Ngoài nội dung này, Văn bản hợp nhất còn nêu rõ mức xử phạt đối với hành vi chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất không đủ một trong các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai.
Theo đó, phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với hành vi thừa kế hoặc tặng cho quyền sử dụng đất; Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với hành vi cho thuê hoặc cho thuê lại hoặc thế chấp bằng quyền sử dụng đất; Phạt tiền từ 30-50 triệu đồng đối với hành vi chuyển nhượng hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, bên nhận chuyển quyền, bên thuê, bên thuê lại phải trả lại đất cho bên chuyển quyền, cho thuê, cho thuê lại; Buộc chấm dứt hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất; Buộc nộp số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; Buộc đăng ký đất đai đối với trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định;
Buộc đăng ký đất đai đối với trường hợp không trả lại được đất do bên chuyển quyền là tổ chức đã giải thể, phá sản, cá nhân đã chết mà không có người thừa kế hoặc chuyển đi nơi khác mà được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận tại thời điểm phát hiện hành vi vi phạm không xác định được địa chỉ và không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất. Bên nhận chuyển quyền phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả do bên chuyển quyền thực hiện hành vi vi phạm gây ra trước khi chuyển quyền.