Tồn kho dầu sắp chạm mức cạn kiệt
Trong một phát biểu hồi cuối tháng 5-2026, ông Neil Chapman - Phó Chủ tịch cấp cao của tập đoàn năng lượng Exxon Mobil cảnh báo rằng lượng dầu tồn kho toàn cầu đang tiến gần những mức thấp chưa từng có trong vài tuần tới. Đồng quan điểm với ông Chapman, bà Toril Bosoni - Giám đốc thị trường và công nghiệp dầu mỏ của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết, nếu tốc độ rút ròng hiện tại không dừng lại, tồn kho toàn cầu sẽ chạm mức cạn kiệt nghiêm trọng đúng vào thời điểm nhu cầu di chuyển mùa hè đạt đỉnh.
Trong nhiều tháng qua, nguồn cung dầu toàn cầu đã được duy trì nhờ việc các quốc gia liên tục rút dầu từ kho dự trữ chiến lược. Tháng 3-2026, nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng nguồn cung dầu do xung đột tại Trung Đông khiến tuyến vận tải qua eo biển Hormuz bị tê liệt, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) đã quyết định xả mức kỷ lục 400 triệu thùng dầu từ kho dự trữ khẩn cấp, tương đương 1/3 tổng lượng dầu dự trữ của các nước thành viên IEA, lớn hơn nhiều so với mức kỷ lục 182 triệu thùng vào năm 2022. Mỹ đóng góp lớn nhất với 172 triệu thùng, tiếp theo là Nhật Bản với 80 triệu thùng.
Theo dữ liệu của IEA, trong tháng 3-2026, các nước thành viên IEA đã xả 129 triệu thùng dầu từ kho dự trữ. Trong tháng 4-2026, con số này là 117 triệu thùng. Còn theo các nhà phân tích của Goldman Sachs, trong tháng 5-2026, lượng dầu tồn kho đã giảm kỷ lục 8,7 triệu thùng/ngày, cao gần gấp đôi so với tốc độ giảm trung bình kể từ khi cuộc xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran nổ ra.
Hệ quả là tại Mỹ, lượng dầu thô dự trữ, bao gồm cả kho dự trữ dầu mỏ chiến lược (SPR), đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hơn một năm qua. Dù là nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, tổng lượng tồn kho của Mỹ chỉ còn 791 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 29-5 vừa qua. Đây là mức thấp nhất kể từ tháng 2-2024. Với Nhật Bản, tổng lượng dầu dự trữ từ khoảng 230 ngày đã giảm xuống còn khoảng 200 ngày vào đầu tháng 6-2026.
Các đợt xả kho này, cùng với việc nhập khẩu dầu thô bằng đường biển của Trung Quốc giảm mạnh, đã giúp làm dịu phần nào cú sốc nguồn cung. Bất chấp cuộc xung đột ở Trung Đông đã kéo dài gần 4 tháng và làm gián đoạn dòng chảy nhiên liệu qua eo biển Hormuz, thị trường dầu toàn cầu vẫn tránh được một cú sốc giá lớn nhờ lượng dầu dự trữ thương mại và các đợt xả kho dự trữ chiến lược quy mô lớn.
Tuy nhiên, giải pháp này đang dần chạm tới giới hạn. Theo giới chuyên gia, chính những “vùng đệm” quan trọng này đang dần cạn kiệt, khiến khả năng chống chịu của thị trường trước các cú sốc mới suy giảm đáng kể. Theo IEA, nếu tốc độ rút dầu từ kho dự trữ tiếp tục như hiện nay, lượng tồn kho toàn cầu có thể giảm xuống mức báo động ngay vào giai đoạn nhu cầu nhiên liệu mùa hè tăng mạnh nhất.
Trong khi đó, những yếu tố tác động đến nguồn cung dầu đang có nhiều lo ngại. Eo biển Hormuz, tuyến vận chuyển khoảng 20% lượng dầu tiêu thụ toàn cầu, vẫn chưa thực sự hoạt động bình thường dù Mỹ nhiều lần tuyên bố sẽ đạt được thỏa thuận khôi phục lưu thông hàng hải. Theo các con số thống kê, lượng dầu xuất khẩu ước tính qua eo biển Hormuz hiện vẫn duy trì ở mức rất thấp, chỉ bằng 5% so với mức bình thường.
Thêm vào đó, sản lượng của các thành viên Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và các đối tác (OPEC+) lại đang có xu hướng giảm. 8 quốc gia chủ chốt trong OPEC+, trong đó có Nga, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), đã sản xuất thấp hơn mục tiêu đề ra tới 8,8 triệu thùng/ngày. IEA đã điều chỉnh hạ dự báo sản lượng “vàng đen” toàn cầu năm 2026 xuống còn 102,25 triệu thùng/ngày, thấp hơn 2,37 triệu thùng so với ước tính trước đó. Tương tự, hoạt động lọc dầu thế giới cũng được điều chỉnh giảm 1,6 triệu thùng/ngày.
Nguy cơ đà phục hồi kinh tế toàn cầu chậm lại
Theo dự báo của IEA, nhu cầu dầu thô toàn cầu năm 2026 sẽ ở quanh ngưỡng 104 triệu thùng/ngày, giảm khoảng 420.000 thùng/ngày so với cùng kỳ năm ngoái. Con số này thấp hơn 1,3 triệu thùng so với những dự báo được đưa ra trước thời điểm xung đột tại Trung Đông bùng phát hồi cuối tháng 2 năm nay. Trong khi sản lượng khai thác giảm, lượng dầu dự trữ giảm xuống dưới ngưỡng an toàn, giá dầu có thể tăng rất mạnh.
Theo ông Neil Chapman - Phó Chủ tịch cấp cao của tập đoàn năng lượng Exxon Mobil, giá dầu Brent có khả năng lên tới 150-160 USD/thùng nếu thị trường rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng. Còn theo ông Mehmet Beceren, Phó Chủ tịch kiêm chiến lược gia thị trường cấp cao tại Rosenberg Research, giá dầu có thể sẽ tăng mạnh vào cuối tháng 6 này. “Trong bối cảnh các vùng đệm dự trữ dần cạn kiệt, giá dầu sẽ phải đảm nhận vai trò điều chỉnh cung - cầu. Điều đó có nghĩa là người tiêu dùng phải trả mức giá dầu đắt đỏ hơn, hoặc nhu cầu tiêu thụ buộc phải bị triệt tiêu,” ông Beceren nhận định.
Nhiều tổ chức tài chính cũng nhận định giá dầu có thể tăng mạnh trong nửa cuối tháng 6 và quý III-2026 nếu hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz không sớm được khôi phục trở lại. Ông Joseph Tanious - Giám đốc chiến lược đầu tư tại Northern Trust Asset Management đánh giá sự kiện eo biển Hormuz đã tạo ra một sự thay đổi mang tính cấu trúc trên thị trường năng lượng thế giới. Ông Tanious nhận định: “Eo biển này hiện đã được định hình là một “điểm nghẽn địa chính trị vĩnh viễn”, khiến viễn cảnh dầu thô quay về mức giá dưới 70 USD/thùng như trước khi bùng phát chiến tranh Iran là điều gần như không tưởng”.
Theo các chuyên gia kinh tế, tác động của một đợt tăng giá dầu mới sẽ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực năng lượng. Các nhà đầu tư lo ngại giá dầu neo ở mức cao trong nhiều tháng có thể làm gia tăng áp lực lạm phát trên toàn cầu, buộc các ngân hàng trung ương phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn dự kiến, làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
Tác động của giá dầu cao sẽ không đồng đều giữa các khu vực. Mỹ hiện là nước xuất khẩu ròng năng lượng nên có khả năng chống chịu tốt hơn. Chuyên gia kinh tế cấp cao Adam Schickling tại Vanguard cho rằng cuộc khủng hoảng năng lượng hiện tại chỉ là một “cơn gió ngược vừa phải” đối với nền kinh tế Mỹ nhờ sản lượng dầu nội địa khổng lồ và làn sóng đầu tư bùng nổ vào Trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, theo ông Schickling, nếu giá dầu thô nhảy vọt lên ngưỡng 120 USD/thùng và neo ở mức đó trong vòng một năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ có thể bị cắt giảm tới 0,4 điểm phần trăm.
Trong khi đó, châu Âu và nhiều nền kinh tế châu Á vốn phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu sẽ dễ bị tổn thương hơn trước các cú sốc giá dầu. Đối với người tiêu dùng, ảnh hưởng rõ rệt nhất sẽ đến từ chi phí nhiên liệu và vận tải. Khi giá xăng dầu duy trì ở mức cao trong thời gian dài, chi phí vận chuyển hàng hóa tăng lên, kéo theo áp lực tăng giá đối với nhiều mặt hàng khác. Điều này có thể làm giảm sức mua của người dân và tạo thêm áp lực đối với tăng trưởng vốn đang khá mong manh. Trong bối cảnh niềm tin tiêu dùng tại nhiều nền kinh tế vẫn ở mức thấp, một cú sốc năng lượng mới có thể làm chậm đà phục hồi kinh tế toàn cầu.