Diện tích cây trồng CNSH đạt mức cao nhất
Trong năm 2024, tổng diện tích cây trồng BĐG trên toàn thế giới đạt 218,7 triệu ha – mức cao nhất kể từ khi công nghệ này được thương mại hóa, tăng gần 3,7 triệu ha so với năm 2023. Đáng chú ý, số quốc gia canh tác đạt 31 quốc gia, mức cao nhất từ trước đến nay, với sự gia nhập của Ghana và Kenya – cho thấy châu Phi đang nổi lên như một khu vực tăng trưởng mới trong ứng dụng cây trồng CNSH.
Các quốc gia đang phát triển tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt xu hướng này với tổng diện tích canh tác đạt 124,8 triệu ha, chiếm 57% diện tích toàn cầu. Trong khi đó, các nước phát triển chiếm 93,9 triệu ha, tương đương 43%. Xét theo khu vực, Mỹ Latinh dẫn đầu thế giới với 102,2 triệu ha, chiếm gần 47% tổng diện tích toàn cầu, vượt Bắc Mỹ với 91,7 triệu ha.
Bốn cây trồng chủ lực gồm đậu tương, ngô, bông và cải dầu tiếp tục chiếm ưu thế về diện tích canh tác. Trong đó, đậu tương giữ vị trí dẫn đầu với 107,2 triệu ha tại 11 quốc gia, tiếp theo là ngô với 72,56 triệu ha được trồng tại 18 quốc gia. Bông đứng thứ ba với 25,31 triệu ha, đồng thời là loại cây có số quốc gia áp dụng nhiều nhất (19 quốc gia), trong khi cải dầu đạt 11,15 triệu ha tại 4 quốc gia.
Việt Nam duy trì đà tăng trưởng ổn định
Năm 2024, khu vực châu Á – châu Đại Dương chiếm khoảng 10% tổng diện tích cây trồng CNSH toàn cầu, với 20,81 triệu ha tại 9 quốc gia. Ấn Độ, Trung Quốc và Australia tiếp tục là các quốc gia dẫn đầu, đóng vai trò động lực tăng trưởng chính của khu vực.
Tại Việt Nam, ứng dụng cây trồng CNSH tiếp tục ghi nhận những bước tiến ổn định kể từ khi ngô BĐG được đưa vào canh tác từ năm 2015. Việc triển khai các giải pháp quản lý dịch hại tổng hợp từ năm 2019, đặc biệt trong phòng trừ sâu keo mùa thu, đã thúc đẩy mở rộng diện tích trồng ngô BĐG. Đến năm 2024, diện tích đạt khoảng 430.000 ha, tương đương 54% tổng diện tích trồng ngô cả nước, cho thấy mức độ chấp nhận công nghệ ở mức đáng kể trong khu vực.
Theo báo cáo, việc ứng dụng ngô BĐG tại Việt Nam giúp tăng năng suất trung bình khoảng 30,4% và giảm tới 78% lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng, qua đó góp phần giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân. Hiện nay, đã có 31 giống ngô BĐG kháng sâu được phê duyệt nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả canh tác.
Xu hướng tích hợp giải pháp
Một xu hướng nổi bật là sự chuyển dịch từ giống mang tính trạng đơn lẻ sang các tổ hợp đa tính trạng, phổ biến nhất là kết hợp khả năng kháng sâu và chịu thuốc trừ cỏ. Cách tiếp cận này đáp ứng nhu cầu tối ưu hóa năng suất, quản lý dịch hại hiệu quả hơn và thích ứng với điều kiện canh tác ngày càng phức tạp.
Làn sóng đổi mới cũng đang mở rộng sang các đặc tính phục vụ sức khỏe, môi trường và nhu cầu của người tiêu dùng. Cây trồng CNSH đang chuyển từ mục tiêu chủ yếu là nâng cao năng suất sang cung cấp các giải pháp đa chức năng cho nông nghiệp và đời sống.
Chỉnh sửa gen mở ra làn sóng đổi mới tiếp theo
Bên cạnh các ứng dụng CNSH truyền thống, làn sóng đổi mới đang mở rộng sang nhiều ứng dụng mới – đặc biệt công nghệ chỉnh sửa gen đang nổi lên như một hướng phát triển mới của CNSH nông nghiệp, giúp rút ngắn quá trình chọn tạo giống cây trồng kháng sâu bệnh, thích ứng với điều kiện bất lợi và cải thiện chất lượng nông sản.
Công nghệ này cho phép tạo ra những thay đổi có chủ đích trong hệ gen, qua đó rút ngắn quá trình chọn tạo các giống cây kháng sâu bệnh, chịu hạn, mặn và nhiệt độ cao, đồng thời cải thiện năng suất, chất lượng dinh dưỡng, thời gian bảo quản và trải nghiệm của người tiêu dùng.
Theo Fortune Business Insights, thị trường công nghệ chỉnh sửa gen được định giá 11,51 tỷ USD năm 2025 và dự kiến đạt 48,29 tỷ USD vào năm 2034, tương đương tốc độ tăng trưởng hơn 17% mỗi năm trong giai đoạn 2026–2034.
Song song với tiến bộ công nghệ, xu hướng quản lý toàn cầu đang chuyển dần sang đánh giá dựa trên đặc tính và mức độ rủi ro của sản phẩm cuối cùng thay vì chỉ căn cứ vào phương pháp và kỹ thuật tạo giống; trong đó, cây trồng chỉnh sửa gen không chứa ADN ngoại lai có thể được miễn trừ hoặc áp dụng quy trình quản lý đơn giản hơn so với cây trồng BĐG truyền thống.