Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng:

Tháo gỡ “điểm nghẽn”, hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

ANTD.VN -Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng khi đặt công nghiệp văn hóa (CNVH) trong tổng thể chiến lược phát triển văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời mở rộng không gian để văn hóa thực sự trở thành một nguồn lực của phát triển kinh tế – xã hội. Không chỉ được nhìn nhận ở phương diện đáp ứng nhu cầu tinh thần, CNVH ngày càng được tiếp cận như một lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, việc làm, thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm của đất nước.

Từ nhận thức đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là có thêm sản phẩm văn hóa, mà là hình thành một hệ sinh thái để tài năng, di sản, công nghệ, nguồn vốn và thị trường có thể kết nối, cộng hưởng và cùng tạo ra giá trị bền vững. Phóng viên An ninh Thủ đô đã có cuộc trò chuyện cùng ông Trần Hoàng- Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, Bộ VHTTDL xung quanh vấn đề này.

cuc-truong-cuc-ban-quyen-tac-gia.jpg
Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng

+ Phóng viên: Thưa Cục trưởng, nhìn lại quá trình phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam thời gian qua, ông đánh giá như thế nào về những kết quả đã đạt được?

Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng: Tôi cho rằng kết quả quan trọng nhất không chỉ nằm ở sự tăng trưởng của một số ngành hay sự xuất hiện của những sản phẩm văn hóa được công chúng đón nhận, mà trước hết là sự thay đổi căn bản trong nhận thức và tư duy phát triển.

Khi văn hóa được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nguồn lực nội sinh, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, việc làm, thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm của đất nước thì cách thức đầu tư, tổ chức sản xuất, xây dựng chính sách và huy động nguồn lực cho văn hóa cũng từng bước thay đổi. Đó là một chuyển biến có ý nghĩa nền tảng, bởi mọi bước phát triển bền vững đều bắt đầu từ một sự thay đổi trong nhận thức.

z6944843694405-590622d0c9aec74da987337461b1691d-9367-1756173516073.jpg
Concert quốc gia được coi là một trong những nhịp đập mới của công nghiệp văn hóa

Thị trường văn hóa Việt Nam đã có những bước phát triển rõ nét. Nhu cầu sáng tạo, tiêu dùng và hưởng thụ sản phẩm văn hóa ngày càng đa dạng; chuyển đổi số và các nền tảng trực tuyến mở ra không gian sáng tạo, thị trường mới. Một số sản phẩm đã cho thấy khả năng thương mại hóa, phát triển thành tài sản trí tuệ và tiếp cận thị trường quốc tế.

Đáng ghi nhận là khu vực tư nhân, doanh nghiệp công nghệ, nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà thiết kế, nhà sản xuất và cộng đồng sáng tạo ngày càng chủ động. Nhiều mô hình kết hợp văn hóa với du lịch, thương mại, công nghệ và truyền thông đã xuất hiện. Ở nhiều địa phương, văn hóa cũng từng bước được đặt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thương hiệu và định vị hình ảnh.

Năm 2026 là một dấu mốc quan trọng. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt phát triển công nghiệp văn hóa trong tổng thể chiến lược phát triển văn hóa và con người Việt Nam; Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội tiếp tục cụ thể hóa bằng các cơ chế về nguồn lực, đầu tư, thuế, đất đai, hạ tầng sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển thị trường. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng xác định yêu cầu phát triển sản phẩm sáng tạo, có bản sắc, chuyên nghiệp, cạnh tranh và bền vững.

Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Số lượng sản phẩm có khả năng phát triển thành thương hiệu quốc gia và cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế còn hạn chế; nhiều thành công mới dừng ở sản phẩm đơn lẻ. Khả năng chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao, năng lực của các chủ thể dẫn dắt thị trường, cũng như hệ thống dữ liệu và đo lường đóng góp của ngành còn chưa đáp ứng yêu cầu.

cong-nghiep-van-hoa-1-le-hoi-ao-dai-ha-noi.jpg

Vì vậy, tôi cho rằng công nghiệp văn hóa Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ khai thác tiềm năng sang xây dựng năng lực; từ những thành công đơn lẻ sang hình thành hệ sinh thái và chuỗi giá trị. Đây cũng là giai đoạn đòi hỏi tư duy chính sách phải đi trước một bước để mở đường cho sáng tạo, nhưng đồng thời phải đủ rõ ràng để thị trường có thể vận hành minh bạch, còn các chủ thể sáng tạo có thể yên tâm đầu tư dài hạn.

+ Phóng viên: Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa rất phong phú, từ di sản, lịch sử, nghệ thuật, ẩm thực, thủ công truyền thống đến các ngành công nghiệp sáng tạo mới. Nhưng vì sao chúng ta vẫn chưa có nhiều sản phẩm văn hóa mang thương hiệu quốc gia, có sức cạnh tranh và khả năng xuất khẩu? Theo Cục trưởng, công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện đang ở đâu so với tiềm năng và so với các nước trong khu vực?

Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng: Ở góc độ đóng góp và tạo tác động xã hội, các ngành công nghiệp văn hóa thời gian qua đã mang lại nhiều tác động tích cực. Tuy nhiên, so với tiềm năng và so với một số quốc gia trong khu vực như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan… chúng ta chưa có nhiều sản phẩm mang thương hiệu quốc gia, có sức cạnh tranh và khả năng xuất khẩu.

1727689739-anh-trai-say-hi-2.jpg
Chương trình "Anh trai say hi" với một chuỗi concert thành công

Một phần nguyên nhân là chúng ta còn thiếu cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp để thu hút vốn và phát triển nguồn lực cho công nghiệp văn hóa. Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này chưa thật sự đồng bộ. Hành lang pháp lý cho tài sản trí tuệ số còn cần hoàn thiện, nhất là bảo vệ và khai thác tài sản trí tuệ trên nền tảng số.

Chúng ta cũng thiếu hạ tầng quy mô lớn, chất lượng quốc tế cho một số lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn; nguồn nhân lực vừa thiếu về số lượng, vừa chưa đồng đều về chất lượng. Xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm văn hóa ra quốc tế và cơ chế hỗ trợ phát triển thị trường cũng chưa được triển khai đồng bộ.

Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số của quốc gia đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa được kỳ vọng đóng góp đáng kể, với mục tiêu tốc độ tăng trưởng 10-12% trong giai đoạn 2026-2030. Muốn vậy, cần tăng vốn đầu tư công và tư, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, phát triển nguồn nhân lực, đồng thời xác định trọng tâm đầu tư vào hạ tầng, dữ liệu, công nghệ, đào tạo và những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao.

trongcom-crop.jpg
Ca sĩ Soobin Hoàng Sơn trong chương trình Anh trai vượt ngàn chông gai mùa 1, một trong những chương trình giải trí đặc biệt thành công trong thời gian vừa qua

Quan trọng hơn, cần chuyển từ tư duy có nhiều sản phẩm sang xây dựng được sản phẩm có khả năng phát triển thành tài sản trí tuệ, thương hiệu và chuỗi giá trị bền vững. Khi một sản phẩm văn hóa đi được từ ý tưởng đến tác phẩm, từ tác phẩm đến tài sản trí tuệ, từ tài sản trí tuệ đến thương hiệu và thị trường, khi đó giá trị của sáng tạo mới thực sự được đánh thức và lan tỏa.

+ Phóng viên: Theo Cục trưởng, chúng ta cần làm gì để biến di sản từ một nguồn tài nguyên cần bảo vệ thành một nguồn lực có thể tạo ra các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật và du lịch có giá trị cao? Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa mà Bộ VHTTDL đang xây dựng cũng dành những chính sách ưu đãi cho các dự án phát huy giá trị di sản, bảo tàng, số hóa, trưng bày và cung cấp dịch vụ bảo tàng. Vậy đâu là cách tiếp cận mà Bộ muốn thúc đẩy mạnh trong thời gian tới?

Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng: Trước hết cần thay đổi cách tiếp cận. Theo đó, di sản văn hóa không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà còn là nguồn lực văn hóa đặc biệt để sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm có giá trị cao. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là khai thác phải bảo đảm cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, bảo vệ giá trị và yếu tố gốc của di tích, không làm sai lệch nội dung di sản văn hóa phi vật thể.

Quan điểm trong xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là đưa việc phát huy giá trị di sản vào chuỗi giá trị, từ sáng tạo, sản xuất đến thương mại hóa và tiêu dùng. Dự thảo cũng thúc đẩy số hóa, phát triển hạ tầng văn hóa số, không gian sáng tạo, thị trường và huy động nguồn lực xã hội để tạo thêm giá trị cho di sản. Hiệu quả không chỉ được tính bằng doanh thu, mà còn bằng khả năng phục vụ cộng đồng và mở rộng cơ hội tiếp cận, thụ hưởng văn hóa.

bzvn-ho-linh-trang-si-review.jpg
Bộ phim điện ảnh Hộ linh tráng sĩ- Bí ẩn mộ vua với những cảnh quay truyệt đẹp ở Ninh Bình được kỳ vọng sẽ tạo đà cho du lịch Ninh Bình tiếp tục phát triển

Hướng tiếp cận của Bộ VHTT&DL là hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa dựa trên di sản, thay vì khai thác theo từng hoạt động đơn lẻ. Cần kết nối di sản với sáng tạo nghệ thuật, thiết kế, điện ảnh, mỹ thuật, thủ công, nhiếp ảnh, triển lãm, bảo tàng, du lịch văn hóa, giáo dục trải nghiệm và công nghệ số; đưa di sản vào chuỗi giá trị từ sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất đến phân phối và thương mại hóa.

Luật Di sản Văn hóa năm 2024 đã mở không gian cho tổ chức, cộng đồng và cá nhân sử dụng, khai thác di sản để sáng tạo, quảng bá, giáo dục, nghiên cứu, kinh doanh, dịch vụ, du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời yêu cầu việc khai thác phải góp phần tạo ra giá trị văn hóa mới và phát triển bền vững. Nghị định số 308/2025/NĐ-CP cũng cụ thể hóa việc khai thác, phát huy giá trị di sản trên môi trường điện tử, gắn với an toàn di sản, bản quyền, dữ liệu và kiểm duyệt nội dung.

Mục tiêu cuối cùng là tạo một vòng tròn giá trị: Bảo tồn tốt thì di sản có sức sống và sức hấp dẫn; từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ và nguồn lực; nguồn lực lại được tái đầu tư cho bảo tồn, nghiên cứu, truyền dạy và phát huy giá trị. Bảo tồn phải tạo nền tảng cho phát triển, còn phát triển phải tạo thêm nguồn lực để bảo tồn. Khi đó, di sản không nằm yên trong quá khứ, mà tiếp tục sống trong đời sống đương đại, được cộng đồng trao truyền và được các thế hệ mới sáng tạo tiếp nối.

Phát triển công nghiệp văn hóa không phải là biến di sản thành một món hàng, mà là làm cho những giá trị đã được hun đúc qua thời gian tiếp tục có đời sống trong hiện tại, tạo sinh kế và niềm tự hào cho cộng đồng, đồng thời để lại vốn văn hóa cho tương lai.

+ Phóng viên: Phát triển công nghiệp văn hóa nhưng không được đánh đổi di sản và bản sắc - bài toán này sẽ được giải như thế nào? Theo Cục trưởng, đâu là “lằn ranh” giữa khai thác để phát huy giá trị di sản và khai thác làm tổn hại di sản? Dự thảo Luật sẽ tạo ra những cơ chế gì để bảo đảm nguyên tắc phát triển đi đôi với bảo tồn, để chính quá trình khai thác kinh tế lại tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn và trao quyền nhiều hơn cho cộng đồng sở hữu, thực hành di sản?

Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng: Đây là vấn đề cốt lõi khi phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên di sản. Chúng ta không thể phát triển bằng cách đánh đổi di sản. Phát triển phải dựa trên nền tảng bảo tồn và chính quá trình phát triển phải góp phần củng cố năng lực bảo tồn.

Lằn ranh trước hết nằm ở nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa giá trị kinh tế với giá trị văn hóa, xã hội. Mọi hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý, thực hành, bảo vệ và phát huy giá trị di sản; không được vì lợi nhuận mà làm sai lệch, xâm hại di sản hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng và chủ thể di sản.

lang-sao-ha.jpg
Làng Sảo Há ở Hà Giang được nhiều du khách tìm đến sau sự thành công của bộ phim Tết ở làng Địa Ngục

Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa thiết kế các cơ chế đánh giá và chính sách ưu đãi để hướng nguồn lực vào những sản phẩm tôn vinh di sản. Trong đó có bộ tiêu chí đánh giá “sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc văn hóa Việt Nam”, với tiêu chí quan trọng là mức độ khai thác, sáng tạo và phát huy di sản, tri thức, ngôn ngữ, nghệ thuật, hình tượng, biểu tượng và các giá trị văn hóa Việt Nam. Những sản phẩm đáp ứng tiêu chí và các dự án phát triển tài sản trí tuệ gốc trọng điểm có thể thuộc nhóm ngành, nghề ưu đãi đầu tư, qua đó tạo nguồn lực cho phát triển và tái đầu tư.

Một điểm quan trọng khác là lấy chủ thể sáng tạo làm trung tâm. Cộng đồng nắm giữ di sản là cội nguồn của sáng tạo và cần được tham gia, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, được hưởng lợi chính đáng từ giá trị mà di sản tạo ra. Dự thảo cũng chú trọng vai trò của nghệ nhân và những người trực tiếp thực hành, truyền dạy, phổ biến di sản.

Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã quy định rõ những giới hạn trong khai thác: Không làm sai lệch yếu tố gốc cấu thành di tích, nội dung và giá trị của di tích, di sản tư liệu; không thực hành sai lệch di sản phi vật thể; không xâm hại, hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản và không khai thác di sản để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng.

Có thể hiểu đơn giản, khai thác để phát huy giá trị là làm cho di sản được biết đến rộng rãi hơn, được tiếp cận, thực hành, trao truyền và sáng tạo trên nền tảng những giá trị chân thực. Ngược lại, khai thác làm tổn hại di sản là khi lợi ích kinh tế dẫn đến làm sai lệch, xâm hại giá trị hoặc quyền lợi của chủ thể di sản.

Thước đo cuối cùng không phải là thu được bao nhiêu từ di sản, mà là sau quá trình khai thác, di sản có được bảo vệ tốt hơn không, cộng đồng có được hưởng lợi chính đáng không, giá trị văn hóa có được trao truyền cho thế hệ sau và kinh tế - xã hội địa phương có phát triển bền vững hay không! Nói cách khác, phát triển công nghiệp văn hóa không phải là biến di sản thành một món hàng, mà là làm cho những giá trị đã được hun đúc qua thời gian tiếp tục có đời sống trong hiện tại, tạo sinh kế và niềm tự hào cho cộng đồng, đồng thời để lại vốn văn hóa cho tương lai.

+ Phóng viên: Nếu coi Nhà nước là “kiến tạo”, doanh nghiệp và người sáng tạo là chủ thể, đâu sẽ là những chính sách tạo cú hích cho công nghiệp văn hóa, thưa Cục trưởng? Giai đoạn tới cần ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn nào: Cơ chế chính sách, vốn đầu tư, hạ tầng, nhân lực sáng tạo, công nghệ, tài sản trí tuệ hay thị trường?

Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng: Công nghiệp văn hóa vận hành theo chuỗi, vì vậy không thể tháo gỡ từng điểm nghẽn một cách riêng lẻ mà phải hình thành một hệ sinh thái đồng bộ, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp, người sáng tạo và cộng đồng là những chủ thể trực tiếp tạo ra giá trị.

Một trong những chính sách đáng chú ý là hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ gốc trọng điểm, đưa các dự án có tiềm năng vào nhóm được ưu đãi đầu tư, đồng thời có chính sách thuế, tài chính và hỗ trợ chuyển đổi số, thương mại hóa, quảng bá thương hiệu. Dự thảo cũng nghiên cứu cơ chế “Thử nghiệm có kiểm soát” (Sandbox) cho những công nghệ, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới mà pháp luật chưa quy định.

6283-10-11.jpg
Một cảnh trong bộ phim Tết ở làng Địa Ngục

Về tài chính - thuế, cần khơi thông nguồn vốn từ Nhà nước và xã hội; khuyến khích quỹ đầu tư mạo hiểm rót vốn; hoàn thuế GTGT 100% cho đoàn làm phim nước ngoài; miễn thuế thu nhập cá nhân 5 năm cho nhân lực chất lượng cao; đồng thời có cơ chế bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ những dự án có tiềm năng.

Điểm nghẽn không gian được giải quyết bằng khung pháp lý để thành lập các “Cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa” và “Tổ hợp sáng tạo văn hóa”. Đặc biệt, chú trọng phát triển “Hạ tầng văn hóa số” và “Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia” để bắt nhịp xu hướng toàn cầu.

Nhân lực cũng là khâu đặc biệt quan trọng. Công nghiệp văn hóa không chỉ cần nghệ sĩ và người sáng tạo mà còn cần nhân lực sản xuất, quản trị, kinh doanh, công nghệ, dữ liệu, pháp lý, truyền thông, phân phối và phát hành quốc tế. Đào tạo phải gắn với nhu cầu thị trường và toàn bộ chuỗi giá trị, đồng thời có cơ chế phát hiện, thu hút và trọng dụng tài năng. Ưu tiên cấp học bổng, ưu đãi tín dụng như các ngành khoa học cơ bản; có chính sách thu hút nhân tài (kể cả quốc tế) bằng lương thưởng cạnh tranh, cấp thẻ tạm trú ưu đãi.

Tài sản trí tuệ phải được coi là nền tảng. Bản quyền không chỉ để xử lý hành vi xâm phạm mà phải trở thành tài sản có khả năng định giá, chuyển giao, cấp phép và tạo nguồn thu hợp pháp, bền vững cho tác giả, nghệ sĩ, nhà sản xuất và doanh nghiệp. Trong bối cảnh nền tảng số và trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, năng lực bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan càng cần được nâng lên.

Về thị trường, cần chuyển từ hỗ trợ từng hoạt động, từng sự kiện sang hỗ trợ hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, quảng bá đến tiêu dùng và xuất khẩu. Dự thảo đề xuất những cơ chế nhằm phát triển thị trường giao dịch sản phẩm và quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ doanh nghiệp kết nối thị trường quốc tế và xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa.

Nhưng nếu phải xác định khâu có tính mở đường, tôi cho rằng thể chế phải đi trước, tổ chức thực hiện phải theo kịp và thị trường phải là thước đo cuối cùng. Một hành lang pháp lý rõ ràng, đồng bộ, có tính kiến tạo sẽ khơi thông nguồn vốn, đất đai, hạ tầng, công nghệ và nhân lực; tạo điều kiện để tài sản trí tuệ được bảo hộ, định giá và khai thác; đồng thời hình thành thị trường văn hóa minh bạch, cạnh tranh và có khả năng kết nối quốc tế.

Công nghiệp văn hóa vận hành theo chuỗi, vì vậy không thể tháo gỡ từng điểm nghẽn một cách riêng lẻ mà phải hình thành một hệ sinh thái đồng bộ, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp, người sáng tạo và cộng đồng là những chủ thể trực tiếp tạo ra giá trị.

Với Nghị quyết số 28/2026/QH16, nhiều điểm nghẽn cấp thiết đã bước đầu được tháo gỡ về ngân sách, đầu tư, thuế, đất đai, hạ tầng sáng tạo, đặt hàng, khoán chi, chuyển đổi số, quảng bá và phát triển thị trường. Vấn đề trọng tâm hiện nay không chỉ là tiếp tục đề xuất chính sách mới, mà trước hết phải khẩn trương thể chế hóa, hướng dẫn và tổ chức thực hiện hiệu quả các cơ chế đã được Quốc hội quyết nghị.

Về lâu dài, cần nhận diện đúng lợi thế, sản phẩm và chủ thể của từng ngành, từng địa phương; chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang đầu tư có trọng tâm, từ quản lý những hoạt động riêng lẻ sang phát triển toàn bộ chuỗi giá trị. Nhà nước không làm thay thị trường, doanh nghiệp hay người sáng tạo; Nhà nước xây dựng luật chơi minh bạch, dẫn dắt nguồn lực, phát triển hạ tầng thiết yếu và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh.

14310755910d2853711c-2000x1333-17659231538241611082130-60-0-1310-2000-crop.jpg

Tôi tin rằng khi thể chế chuyển hóa thành nguồn lực, nguồn lực thành sản phẩm, sản phẩm thành thương hiệu và thị trường, giá trị kinh tế tạo ra sẽ tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa, sáng tạo, cộng đồng và con người Việt Nam. Khi đó, công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện của một ngành, một vài lĩnh vực hay một số sản phẩm riêng lẻ, mà trở thành một dòng chảy kết nối di sản với hiện tại, sáng tạo với thị trường, văn hóa với kinh tế và khát vọng của con người Việt Nam với không gian phát triển mới. Đó cũng là cách để văn hóa vừa giữ được căn cốt của mình, vừa tạo thêm những giá trị mới, để mỗi sản phẩm văn hóa Việt Nam khi bước ra thị trường trong nước và quốc tế không chỉ mang theo giá trị kinh tế, mà còn mang theo bản sắc, câu chuyện và sức sống của Việt Nam.

+ Phóng viên: Xin cảm ơn Cục trưởng về cuộc trò chuyện!

Tin cùng chuyên mục

Xin chào,
Tôi là Chatbot của
An ninh Thủ đô
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
An Ninh Thủ Đô nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!
5 điểm nghẽn của Hà Nội
giải pháp xử lý điểm nghẽn của Thủ đô
50 năm Báo An ninh Thủ đô
Công an Thủ đô Anh hùng