"Cuộc chơi" khép kín
Tại Việt Nam, thị trường kiểm định kim cương gần như là một "cuộc chơi khép kín" khi phần lớn hoạt động kiểm định nằm trong hệ sinh thái của chính các doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc, đá quý.
Khi tính độc lập của hoạt động kiểm định khó được bảo đảm, niềm tin của thị trường sẽ lại phụ thuộc quá nhiều vào uy tín của một số tổ chức lớn. Chính vì vậy, chỉ cần một đơn vị có thị phần đáng kể như P-Lab (công ty con của PNJ) sụp đổ, những tác động tiêu cực sẽ không chỉ dừng lại ở một doanh nghiệp mà có thể lan rộng, làm lung lay niềm tin của người tiêu dùng đối với toàn bộ hệ thống kiểm định kim cương.
Qua nhiều năm hình thành phát triển, thị trường giám định kim cương chủ yếu nằm trong tay các đơn vị trực thuộc hoặc có mối liên hệ chặt chẽ với những doanh nghiệp vàng bạc, đá quý lớn. Trong số đó, P-Lab (trước đây là PNJLab) từng được xem là "ông lớn" của ngành. Năm 2016, đơn vị này cho biết đang nắm khoảng 70% thị phần giám định kim cương và đá quý tại Việt Nam, với năng lực kiểm định hơn 10.000 sản phẩm mỗi tháng, phần lớn là kim cương, trong đó có nhiều viên trị giá tới hàng triệu USD.
Ngoài giám định kim cương, đơn vị này còn cung cấp các dịch vụ thử nghiệm, tư vấn đối với đá quý, đá bán quý, vàng, bạc và các kim loại quý khác.
Không chỉ PNJ, nhiều doanh nghiệp đầu ngành cũng phát triển các trung tâm giám định riêng để hoàn thiện hệ sinh thái kinh doanh. DOJI thành lập DOJILAB từ năm 2009 (tiền thân là Trung tâm Giám định Vàng bạc Đá quý DOJI), hoạt động trong các lĩnh vực giám định kim cương, đá màu, kim loại quý, đào tạo ngọc học và nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, SJC sở hữu 49% vốn tại Rồng Vàng LAB, đơn vị đi vào hoạt động từ năm 2005, chuyên giám định chất lượng kim cương và vàng.
Bên cạnh đó, Sacombank cũng tham gia thị trường thông qua công ty con Sacombank-SBJ, chính thức triển khai dịch vụ giám định đá quý từ năm 2009.
Đáng chú ý, cách vận hành này đi ngược với mô hình phổ biến của các tổ chức giám định hàng đầu thế giới. Những tên tuổi như GIA, HRD Antwerp... đều được xây dựng trên nền tảng độc lập với các doanh nghiệp kinh doanh kim cương.
Tại các tổ chức này, nguyên tắc "không bán thứ mình giám định và không giám định thứ mình bán" được xem là nền tảng để bảo vệ tính khách quan và duy trì niềm tin của thị trường.
Chứng nhận kiểm định không có cơ sở pháp lý
Theo Luật sư Lê Cao (Công ty Luật hợp danh FDVN), quy định pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có quy chuẩn cụ thể, chi tiết quy định việc kiểm định chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của kim cương một cách cụ thể, do đó, các pháp nhân được phép hoạt động dịch vụ kiểm định hầu như đang thực hiện việc kiểm định dựa trên các điều kiện giống với các loại sản phẩm, hàng hóa khác.
Hiện nay, điều kiện hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định được quy định tại Nghị định số 105/2016/NĐ-CP, Nghị định số 154/2018/NĐ-CP, Nghị định số 133/2025/NĐ-CP và mới nhất là Nghị định số 36/2026/NĐ-CP.
Theo Điều 3 Nghị định số 36/2026/NĐ-CP, tổ chức kiểm định phải đáp ứng 6 nhóm điều kiện, gồm: có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam; có cơ sở vật chất, trang thiết bị và quy trình kiểm định phù hợp với hướng dẫn của cơ quan quản lý hoặc tiêu chuẩn, khuyến nghị quốc tế; có ít nhất một nhân viên kỹ thuật đáp ứng yêu cầu về trình độ, hợp đồng lao động và chứng chỉ chuyên môn; bảo đảm tính độc lập, khách quan thông qua việc công khai quy trình kiểm định, đồng thời người đứng đầu, nhân viên kiểm định phải tuân thủ quy trình, chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả; thiết lập và duy trì hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17025 đối với hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn và thử nghiệm; đã đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kiểm định.Cũng theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 36/2026/NĐ-CP thì việc cấp giấy chứng nhận đăng ký thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
Như vậy, về mặt pháp lý các đơn vị kiểm định hay phòng Lab được thành lập do chính hệ thống các doanh nghiệp kinh doanh kim cương lập ra nếu đáp ứng các điều kiện khá dễ dàng nêu trên.
Luật sư Lê Cao khẳng định, kết quả kiểm định chủ yếu dựa vào nhận định của kiểm định viên, của cơ sở kiểm định. Các quy định hướng dẫn kỹ thuật đặc thù của Bộ Khoa học và Công nghệ cho hoạt động đặc thù kiểm định liên quan đến kim cương hiện nay chưa được chuẩn hóa bằng các quy định cụ thể.
Với các kiến thức chuyên môn nghiệp vụ chung mang tính chất tiêu chuẩn, đo lường chất lượng chung, không có ý nghĩa riêng biệt và đặc thù cụ thể cho loại sản phẩm đá quý hoặc kim cương nói riêng, do vậy kết quả kiểm định hoặc quy trình cho ra kết quả kiểm định sẽ phụ thuộc ý chí chủ quan của đơn vị kiểm định.
Từ thực tế đó cho thấy, với kim cương được nhập vào Việt Nam, việc phát hiện nguồn gốc, xuất xứ, tính pháp lý của kim cương rất cần được quy định cụ thể. Cần có một quy trình để phát hiện mặt hàng có giá trị đặc biệt lớn này khi xâm nhập vào thị trường. Hiện chưa có một quy trình riêng cho sản phẩm đặc thù này, trong khi đó, đặc tính của kim cương là nhỏ, gọn có thể bám theo, len lỏi vào các hàng hóa khác đã được thông quan hợp pháp để nhập vào Việt Nam.
Ở khía cạnh pháp lý, chứng nhận kiểm định của các đơn vị kiểm định vốn không có cơ sở pháp lý như một “căn cước” của kim cương. Nghĩa là, nội dung kiểm định vốn chỉ tập trung vào các yếu tố chất lượng, trọng lượng sản phẩm mà không có giá trị khẳng định xuất xứ hoặc tính chất pháp lý của kim cương có hợp pháp hay bất minh.
Do đó, ở khía cạnh người mua hàng hóa, nhiều người chỉ cần thấy chứng nhận kèm theo (dù chưa rõ chứng nhận đó có giá trị và sự tin tưởng đến đâu trong việc đánh giá sự thật giả của hàng hóa) là tin tưởng để thực hiện các giao dịch, họ không còn quan tâm đến tính pháp lý hay xuất xứ của viên kim cương.
Xác lập “căn cước” hợp pháp cho kim cương tại Việt Nam
Luật sư Lê Cao nhấn mạnh, kim cương là một loại đá quý có giá trị đặc biệt lớn, từ vụ việc liên quan đến các viên kim cương nhập lậu được phát hiện, cho thấy cần hoàn thiện một quy trình kiểm soát đối với hoạt động nhập khẩu, kinh doanh, kiểm định kim cương một cách có hệ thống.
Theo đó, kiểm định kim cương phải kèm theo các điều kiện về thông tin xuất xứ sản phẩm, nguồn gốc và điều kiện pháp lý của từng viên kim cương.
“Chúng ta biết chỉ một chiếc điện thoại, tủ lạnh, vốn có thể ít giá trị hơn rất nhiều viên kim cương , nhưng các vấn đề về xuất xứ hàng hóa, tình trạng pháp lý của hàng hóa vẫn luôn được kiểm soát. Trong khi đó, kim cương không thể dễ dàng khoác lên mình những giấy kiểm định rất ít giá trị tin tưởng, không chứng thực cho xuất xứ và tình trạng pháp lý của sản phẩm”, luật sư cho biết.
Hiện nay, luật đang cho rằng quy trình kiểm định chỉ cần do tổ chức kiểm định công bố áp dụng. Trên cơ sở này đang đặt vấn đề kiểm định vào chính sự chủ động của đơn vị kiểm định. Theo đó cơ quan quản lý chưa áp được những quy trình chung thống nhất đặc thù để kiểm soát chất lượng (và sự hợp pháp của hoạt động kiểm định) của chính những người kiểm định chất lượng.
Hơn nữa, kim cương có đặc trưng khác biệt và giá trị rất lớn, nên với điều kiện thành lập các đơn vị cung cấp dịch vụ kiểm định như hiện nay, vốn không có những quy định đặc thù cho hoạt động này. Vì vậy, cần có các quy định về quy chuẩn, điều kiện, quy trình cho việc thành lập, hoạt động và thực hiện việc kiểm định đặc trưng riêng cho kim cương, nội dung kiểm định phải xác lập được một loại “căn cước” cho kim cương có thể được kinh doanh hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam.
Điều này không chỉ góp phần minh bạch hóa hoạt động kinh doanh mà còn giúp quản lý thuế, quản lý và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật như rửa tiền và các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại.
Việc chuẩn hóa quy định pháp luật về xuất nhập khẩu, kinh doanh, kiểm định kim cương sẽ giúp định danh cho kim cương có chuẩn “căn cước”, từ đó đảm bảo sự vận hành thị trường minh bạch, đồng thời cũng góp phần tạo tin tưởng, xác lập thêm giá trị cho kim cương, góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật.