Châu Á mở rộng kho dự trữ, tìm nguồn cung dầu lửa mới bên ngoài Trung Đông

ANTD.VN - Trong bối cảnh tình hình vùng Vịnh tiếp tục căng thẳng khi thông thương qua eo biển Hormuz và Biển Đỏ bị gián đoạn kéo dài do xung đột, các nước châu Á đang phải tính toán lại nguồn cung cũng như cách thức mua dầu thô để tránh tác động tiêu cực.

cong-ty-loc-hoa-dau-mangalore-cua-an-do-yeu-cau-mua-dau-tho-khong-di-qua-eo-bien-hormuz-va-bien-do.png
Công ty lọc hóa dầu Mangalore của Ấn Độ yêu cầu mua dầu thô không đi qua eo biển Hormuz và Biển Đỏ

Điều kiện mới đi kèm hợp đồng mua dầu

Trong bài phân tích trên chuyên trang Kinh tế vùng Vịnh (AGBI), nhà báo Frank Kane, Tổng Biên tập phụ trách nội dung của AGBI cho biết, Công ty lọc hóa dầu Mangalore của Ấn Độ đã yêu cầu mua dầu thô không đi qua eo biển Hormuz và Biển Đỏ. Điều khoản hạn chế này được đưa vào một gói thầu giao ngay (spot tender) mua tối đa 1 triệu thùng dầu thô trong khoảng thời gian từ ngày 25-8 đến 6-9.

Theo tờ Business Standard, đây là lần đầu tiên một nhà máy lọc dầu của Ấn Độ gắn yêu cầu này vào gói thầu nhập khẩu dầu thô giao ngay. Về bản chất, Công ty lọc hóa dầu Mangalore chuyển trách nhiệm vận chuyển dầu qua những tuyến hàng hải nguy hiểm nhất thế giới từ người mua sang người bán. Thông điệp được đưa ra là nguồn dầu có thể đến từ bất kỳ đâu, nhưng không được bốc hàng hoặc vận chuyển qua eo biển Hormuz hay Biển Đỏ. Dù điều khoản trong gói thầu của Công ty lọc hóa dầu Mangalore tinh tế hơn nhiều so với một yêu cầu đơn giản kiểu “không mua dầu vùng Vịnh”, nhưng đây có thể là dấu hiệu cho thấy các khách hàng dầu mỏ lớn của vùng Vịnh đang bắt đầu tìm cách giảm mức độ phụ thuộc vào các tuyến vận tải hàng hải tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Trong nhiều thập niên, bất ổn địa chính trị tại vùng Vịnh thường được xem là những gián đoạn tạm thời, có thể khiến giá dầu tăng đột biến nhưng hiếm khi tạo ra sự thay đổi mang tính cơ cấu. Tuy nhiên, những diễn biến trong năm 2026 đã làm lung lay quan điểm đó. Mặc dù Iran và Oman được cho là sắp đạt được thỏa thuận về eo biển Hormuz nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc tuyến đường biển huyết mạch này sớm được mở lại như thông thường. Mới đây, Iran đã đưa ra một loạt điều kiện đi kèm dành cho Mỹ.

Theo đó, Tehran yêu cầu Mỹ dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân và rút lực lượng quân sự khỏi khu vực xung quanh Iran, bồi thường thiệt hại gây ra cho Iran bởi các cuộc tấn công, dỡ bỏ các lệnh trừng phạt và giải phóng vô điều kiện các tài sản của Iran đang bị phong tỏa ở nước ngoài. Iran cũng dành cho mình quyền sẵn sàng ngăn chặn tàu của Mỹ và Israel lưu thông qua eo biển Hormuz khi cần thiết. Chính vì thế, bất chấp những tuyên bố từ Tổng thống Mỹ Donald Trump, lưu thông qua lại eo biển Hormuz hiện vẫn bị hạn chế nghiêm trọng, hoạt động vận tải thương mại bị thu hẹp đáng kể. Số liệu ghi nhận từ giữa tháng 5 cho thấy lưu lượng tàu thuyền qua eo biển Hormuz hiện dao động chỉ từ 2 đến 16 tàu/ngày. Con số này thấp hơn nhiều so với hơn 100 tàu thường xuyên đi qua mỗi ngày trước khi khủng hoảng xảy ra. So với trước thời điểm xung đột bùng phát, sản lượng dầu từ các quốc gia vùng Vịnh cũng giảm khoảng 14,4 triệu thùng/ngày.

Trong khi đó, tình hình tại Biển Đỏ dù ít bị hạn chế hơn nhưng vẫn thường xuyên đối mặt với những mối đe dọa mới từ lực lượng Houthi tại Yemen. Lực lượng này đã đe dọa nhằm vào các hoạt động vận tải của Saudi Arabia qua eo biển Bab el-Mandeb. Tuần trước, lực lượng Houthi còn tấn công nhà máy lọc dầu Jazan của Saudi Arabia. Sự sụt giảm mạnh các tàu vận chuyển dầu đi qua eo biển Hormuz cùng tình hình căng thẳng trên Biển Đỏ đã đẩy giá dầu và khí đốt lên cao, làm gián đoạn chuỗi cung ứng, làm tăng chi phí vận chuyển và bảo hiểm trên toàn thế giới. Trong phiên sáng 10-8, giá dầu tiếp tục đi lên. Giá dầu Brent ở mức trên 84 USD/thùng sau khi tăng hơn 5% trong ba phiên trước đó. Giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) dao động gần mức 79 USD/thùng.

Tìm cách đa dạng hóa nguồn cung

Công ty lọc hóa dầu Mangalore yêu cầu gói thầu mua 1 triệu thùng dầu thô phải được cung cấp từ các cảng nằm ngoài khu vực Hormuz và Biển Đỏ đặt ra câu hỏi là liệu những khách hàng quan trọng nhất của vùng Vịnh có bắt đầu tìm cách giảm sự phụ thuộc vào dầu thô của khu vực này do những gián đoạn, bất ổn và biến động kéo dài hay không.

Hiện các nhà xuất khẩu vùng Vịnh đang đánh giá liệu rằng, đây chỉ là một trường hợp cá biệt hay là dấu hiệu báo trước một xu hướng mới. Nếu điều này xảy ra, đây có thể được xem là sự suy giảm nhu cầu mang tính lâu dài và quyết định của Công ty lọc hóa dầu Mangalore vượt xa phạm vi của một nhà máy lọc dầu đơn lẻ. Châu Á được đánh giá là khu vực chịu rủi ro lớn nhất do phụ thuộc nặng nề vào nguồn dầu đi qua eo biển Hormuz.

Theo dữ liệu từ công ty phân tích vận tải biển Kpler, châu Á đã nhập khẩu 14,74 triệu thùng dầu thô mỗi ngày từ Trung Đông trong năm 2025, chiếm gần 60% tổng lượng dầu xuất khẩu của khu vực này. Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất và Iraq là những nhà cung cấp hàng đầu cho châu Á. Các chuyến hàng dầu từ Trung Đông thường mất từ 30 đến 40 ngày để đến Bắc Á, còn các chuyến đi đến Ấn Độ thì mất chưa đến một tuần. Trong số các nước mua chính, Nhật Bản và Hàn Quốc là khách hàng lớn nhất. Dầu thô Trung Đông chiếm lần lượt 95% và 70% lượng nhập khẩu của họ. Singapore, trung tâm dầu mỏ của châu Á, đã tăng sự phụ thuộc vào dầu mỏ Trung Đông lên hơn 70% trong năm ngoái, sau khi Exxon Mobil hoàn thành việc mở rộng nhà máy lọc dầu ở nước này, đòi hỏi nguồn cung cấp dầu nặng từ Trung Đông nhiều hơn. Trung Quốc, quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, nhập khẩu khoảng một nửa lượng dầu thô bằng đường biển, tương đương 5,4 triệu thùng/ngày, từ Trung Đông.

Theo các con số thống kê, hiện nay, tại nhiều quốc gia châu Á, các nhà nhập khẩu đang bắt đầu xem xét lại cách thức mua dầu thô. Tại Ấn Độ, các nhà máy lọc dầu nước này đang tìm cách đa dạng hóa nguồn cung nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và tối ưu hóa chi phí nguyên liệu. Họ đẩy mạnh nhập dầu từ Mỹ Latinh và châu Phi, đồng thời duy trì nguồn cung từ Nga nhằm giảm phụ thuộc vào Trung Đông. Mới đây, Tập đoàn dầu khí quốc gia Ấn Độ (IOC), đã mua 4 triệu thùng dầu thô từ Tây Phi.

Theo các nguồn tin, lô hàng này do tập đoàn năng lượng Mỹ Chevron cung cấp. Philippines cũng chuyển hướng sang nguồn dầu từ Mỹ, Canada, Colombia và Argentina. Theo Kpler, một lô dầu thô 616.000 thùng từ SPR của Mỹ đã tới Philippines, đánh dấu chuyến dầu dự trữ khẩn cấp đầu tiên của Mỹ tới châu Á kể từ tháng 11-2022. Pakistan - quốc gia phụ thuộc khoảng 90% nguồn cung dầu khí đi qua eo biển Hormuz - thì lên kế hoạch yêu cầu các nhà máy lọc dầu duy trì lượng dầu thô đủ dùng trong 15 ngày, trong khi các công ty phân phối phải dự trữ lượng nhiên liệu thành phẩm đủ cho 30 ngày.

Ngoài tìm các nguồn cung mới bên ngoài Trung Đông, các nước châu Á còn tìm cách mở rộng kho dự trữ dầu chiến lược. Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống dự trữ được cho là lớn nhất thế giới, với quy mô ước tính hơn 1 tỷ thùng dầu. Là nước nhập khẩu dầu lớn thứ 3 thế giới và một trong những thị trường tiêu thụ năng lượng tăng trưởng nhanh nhất, Ấn Độ cũng đang xem xét mở rộng mạng lưới dự trữ dầu chiến lược của mình. Pakistan, quốc gia phụ thuộc lớn vào nguồn dầu và khí hóa lỏng nhập khẩu từ Trung Đông trước khi xung đột nổ ra, cũng đang nghiên cứu các biện pháp nhằm tăng năng lực lưu trữ trong nước. Còn Australia, quốc gia từ lâu bị chỉ trích vì không đáp ứng các yêu cầu về dự trữ nhiên liệu của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), đã công bố kế hoạch tăng đáng kể lượng nhiên liệu dự trữ.

Tin cùng chuyên mục

Xin chào,
Tôi là Chatbot của
An ninh Thủ đô
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
An Ninh Thủ Đô nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!
5 điểm nghẽn của Hà Nội
giải pháp xử lý điểm nghẽn của Thủ đô
50 năm Báo An ninh Thủ đô
Công an Thủ đô Anh hùng