TỪ KỶ CƯƠNG ĐẾN PHÁT TRIỂN: VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG KIẾN TẠO MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN MỚI

KỲ 3: Kiến tạo phát triển từ cơ sở - Phép thử của năng lực lãnh đạo

ANTD.VN - Mọi quyết sách vĩ mô dù hoàn hảo đến đâu, nếu tắc nghẽn ở cơ sở thì không thể tạo ra nguồn lực phát triển. Khép lại loạt bài, Thiếu tá, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành (Giảng viên Trường Đại học Cảnh sát Nhân dân) đi sâu mổ xẻ "phép thử" cam go nhất của năng lực lãnh đạo: đưa quản trị hiện đại về sát khu dân cư. Ở đó, mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" đang được Thủ đô rốt ráo thí điểm chính là lăng kính trung thực nhất để đo lường hiệu quả bộ máy.

phu-khanh.jpg
Cơ sở không đơn thuần là điểm cuối tiếp nhận chỉ đạo, mà chính là không gian sinh động nhất để kiểm chứng sức sống của mọi mô hình phát triển.

Cơ sở là nơi mô hình phát triển được kiểm chứng

Trong tiến trình phát triển của đất nước, không ít đổi mới quan trọng không bắt đầu từ những mô hình hoàn chỉnh được thiết kế sẵn, mà được hình thành từ chính những đòi hỏi của thực tiễn. Lịch sử Việt Nam cho thấy, cơ sở thường là nơi đầu tiên nhận ra những bất cập của cơ chế cũ, đồng thời cũng là nơi mạnh dạn tìm kiếm cách làm mới.

Lịch sử đổi mới của Việt Nam đã cho thấy điều đó. Trước khi “khoán” trở thành một chủ trương lớn trong nông nghiệp, nhiều địa phương và hợp tác xã đã chủ động tìm tòi những cách thức giao khoán phù hợp hơn với thực tế sản xuất. Những mô hình thường được gọi bằng các khái niệm như “khoán hộ”, “khoán chui”, hay rộng hơn là những hiện tượng “xé rào” trong thời kỳ trước Đổi mới, ban đầu xuất phát từ sức ép rất cụ thể của đời sống: làm thế nào để giải phóng sức sản xuất, tạo động lực cho người lao động và tháo gỡ những điểm nghẽn mà cơ chế hiện hành chưa giải quyết được.

Từ những thử nghiệm ban đầu ở cơ sở, qua tổng kết thực tiễn, những nhân tố hợp lý từng bước được nhận diện, điều chỉnh và nâng lên thành chính sách. Chính quá trình thực tiễn đi trước, tổng kết theo sau, thể chế hóa và nhân rộng đã góp phần tạo nên những bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển. Bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị với sự phát triển của Việt Nam hiện nay. Cơ sở không đơn thuần là “cấp cuối cùng” trong hệ thống tổ chức thực hiện, nơi tiếp nhận và triển khai các quyết định từ bên trên. Cơ sở còn là không gian phát hiện vấn đề, nơi nảy sinh sáng kiến và nơi những cách làm mới được thử thách trực tiếp bằng thực tiễn.

Một mô hình phát triển, dù được xây dựng công phu đến đâu, cuối cùng vẫn phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể của cuộc sống: người dân có được phục vụ tốt hơn không; thủ tục có thuận tiện hơn không; môi trường sống có an toàn, văn minh hơn không; nguồn lực địa phương có được khơi thông không; những vấn đề phát sinh có được giải quyết nhanh chóng ngay từ nơi chúng xuất hiện hay không?

Theo nghĩa đó, cơ sở chính là “phép thử” rõ nhất đối với tính đúng đắn và sức sống của một mô hình phát triển. Chủ trương chỉ thực sự trở thành năng lực phát triển khi nó đi vào cuộc sống; còn đổi mới chỉ thực sự có giá trị khi được thực tiễn kiểm chứng. Vấn đề đó cũng đặt ra một yêu cầu mới đối với năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng ở cơ sở: không chỉ bảo đảm cơ sở thực hiện đúng chủ trương, mà còn phải tạo điều kiện để cơ sở dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm những cách làm mới trong khuôn khổ cho phép; đồng thời xây dựng cơ chế phát hiện, tổng kết và nhân rộng kịp thời những sáng kiến có hiệu quả.

02.jpg
Cán bộ không thể chỉ làm đúng quy trình. Năng lực quản trị từ cơ sở đòi hỏi sự chủ động phát hiện vấn đề và giải quyết dứt điểm mâu thuẫn ngay khi mới nảy sinh.

Chi bộ mạnh, cán bộ tốt, Nhân dân đồng thuận tạo nên nền móng của quản trị từ cơ sở

Một chủ trương đúng chưa chắc đã tạo ra kết quả giống nhau ở mọi địa bàn. Cùng một cơ chế, cùng một nguồn lực, nhưng có nơi triển khai nhanh, tạo được chuyển biến rõ rệt; có nơi lại chậm trễ, lúng túng. Khoảng cách ấy, suy cho cùng, thường nằm ở năng lực của tổ chức đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ và mức độ đồng thuận của Nhân dân.

Ở cơ sở, chi bộ là nơi gần dân, sát dân nhất của tổ chức đảng. Những vấn đề tưởng như rất cụ thể của đời sống – từ vệ sinh môi trường, trật tự đô thị, an ninh khu dân cư đến giải quyết thủ tục hành chính, chăm lo người yếu thế – đều có thể trở thành thước đo năng lực lãnh đạo. Một chi bộ mạnh không chỉ thể hiện ở việc duy trì nền nếp sinh hoạt hay quán triệt đầy đủ nghị quyết, mà quan trọng hơn là khả năng nhận diện đúng vấn đề của địa bàn, tập hợp được lực lượng và tổ chức giải quyết vấn đề đến cùng.

Nhưng chủ trương muốn đi vào cuộc sống phải thông qua cán bộ. Trong mô hình quản trị từ cơ sở, cán bộ không thể chỉ làm đúng quy trình, đúng phần việc được giao, mà cần biết chủ động phát hiện vấn đề, phối hợp xử lý và chịu trách nhiệm về kết quả. Người dân đánh giá hiệu quả của bộ máy không phải bằng số lượng văn bản được ban hành, mà bằng những điều rất cụ thể: một thủ tục được giải quyết nhanh hơn, một kiến nghị được phản hồi kịp thời, một điểm ùn tắc được xử lý, một khu dân cư trở nên sạch hơn, an toàn hơn.

Gốc rễ của mọi sự thay đổi bền vững ở cơ sở luôn cần có sự tham gia của Nhân dân. Không một chính quyền nào có thể quản trị hiệu quả từng ngõ phố, khu dân cư nếu thiếu sự đồng hành của người dân. Từ giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo đảm an ninh, trật tự đến xây dựng nếp sống văn minh, chuyển đổi số hay thực hiện các dự án phát triển, đồng thuận xã hội vừa là nguồn lực, vừa là điều kiện để chính sách đi vào cuộc sống.

Nhân dân không chỉ là đối tượng vận động để “đồng thuận” với những quyết định đã có. Quản trị hiện đại đòi hỏi người dân phải được tham gia từ quá trình phát hiện vấn đề, đóng góp sáng kiến, giám sát thực hiện đến đánh giá kết quả. Khi tiếng nói từ khu dân cư được lắng nghe và phản hồi, những vấn đề nhỏ có thể được xử lý trước khi tích tụ thành vấn đề lớn; những sáng kiến tốt cũng có cơ hội được phát hiện và nhân rộng.

Bởi vậy, chi bộ mạnh – cán bộ tốt – Nhân dân đồng thuận không phải ba yếu tố đứng riêng rẽ. Chi bộ mạnh tạo ra năng lực lãnh đạo; cán bộ tốt chuyển năng lực ấy thành hành động; còn sự tham gia và đồng thuận của Nhân dân tạo nên sức mạnh xã hội để hành động mang lại kết quả.

Kiến tạo phát triển từ cơ sở, xét đến cùng, bắt đầu từ chính mối quan hệ ấy. Khi tổ chức đảng đủ sức lãnh đạo, cán bộ đủ năng lực hành động và Nhân dân thực sự trở thành chủ thể tham gia, cơ sở sẽ không chỉ là nơi thực hiện nhiệm vụ được giao, mà trở thành một không gian quản trị có khả năng tự phát hiện vấn đề, huy động nguồn lực và kiến tạo những thay đổi từ chính cộng đồng.

242987374-thulamphucthinh.jpg
Mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" đang thí điểm tại xã Phúc Thịnh và xã Thư Lâm (TP Hà Nội) đặt tỷ lệ giải quyết kiến nghị và mức độ hài lòng của dân làm thước đo cốt lõi.

Mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa – phép thử của năng lực kiến tạo phát triển từ cơ sở

Nếu coi cơ sở là nơi những chủ trương lớn được kiểm chứng bằng thực tiễn, thì việc Hà Nội triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” có thể xem là một phép thử cụ thể cho tư duy kiến tạo phát triển từ cơ sở.

Tháng 7/2026, Hà Nội chính thức ban hành Đề án triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” theo Quyết định số 3489/QĐ-UBND. Hai địa bàn được lựa chọn thí điểm là xã Phúc Thịnh và xã Thư Lâm – hai xã liền kề, còn nhiều dư địa phát triển, có khả năng kết nối với các trục giao thông, hành lang xanh và các không gian chức năng quan trọng. Thành phố đặt kỳ vọng đến năm 2030 cơ bản hình thành một mô hình có đủ quy mô và điều kiện phát triển, hướng tới khả năng thu hút khoảng 700.000 người dân sinh sống.

Điều đáng chú ý ở đây không chỉ nằm ở tên gọi của mô hình, mà ở cách tiếp cận đối với phát triển và quản trị ở cấp cơ sở. Xã, phường không còn được nhìn nhận đơn thuần như một đơn vị hành chính thực hiện các nhiệm vụ được phân giao. Mô hình hướng tới một không gian quản trị tích hợp, trong đó chính quyền cơ sở đồng thời phải giải quyết những yêu cầu về phát triển kinh tế, hạ tầng, an sinh xã hội, văn hóa, môi trường, quốc phòng – an ninh, khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Nói cách khác, những mục tiêu lớn của phát triển phải được chuyển hóa thành những thay đổi có thể cảm nhận được ngay trong đời sống hằng ngày của người dân.

Hà Nội xây dựng 54 tiêu chí thuộc 8 nhóm nội dung, với tổng thang điểm 100, thay vì chỉ mô tả một cách định tính về một địa bàn phát triển tốt. Trong nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị và quản trị phục vụ, chẳng hạn, có những yêu cầu rất cụ thể: tỷ lệ kiến nghị của người dân được giải quyết từ cơ sở; tỷ lệ người dân tham gia góp ý chính sách; tỷ lệ thủ tục hành chính được giải quyết đúng hạn; công khai dữ liệu, ngân sách; xây dựng các mô hình thôn, tổ dân phố tự quản thông minh, xanh, an toàn...

Đằng sau những con số ấy là một thay đổi quan trọng về cách đánh giá hiệu quả quản trị: không chỉ xem chính quyền đã làm những gì, mà phải xem người dân nhận được gì từ hoạt động của chính quyền.

Vì vậy, hạnh phúc, chất lượng sống và mức độ hài lòng của người dân được đặt vào vị trí đặc biệt trong đánh giá mô hình. Điều đó cũng có nghĩa, một xã, phường không thể được coi là phát triển chỉ bởi có thêm nhiều công trình, thu ngân sách cao hơn hay tốc độ đô thị hóa nhanh hơn. Thành quả phát triển cuối cùng phải được phản ánh vào môi trường sống, việc làm, giáo dục, y tế, an sinh, an toàn, khả năng tiếp cận dịch vụ công và cảm nhận thực tế của mỗi người dân.

Một mô hình thí điểm chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó cho phép thử nghiệm cái mới, phát hiện những điểm chưa phù hợp, đo lường kết quả, điều chỉnh và sau đó mới quyết định điều gì có thể nhân rộng. Bởi Phúc Thịnh hay Thư Lâm có những điều kiện riêng; một mô hình thành công tại đây không thể được sao chép cơ học cho mọi xã, phường của Hà Nội.

Điều cần tìm kiếm qua thí điểm vì thế không phải là một “khuôn mẫu” cứng, mà là những nguyên tắc, cơ chế và phương thức quản trị có khả năng thích ứng: cơ sở cần được trao quyền đến đâu; dữ liệu được sử dụng như thế nào để ra quyết định; người dân tham gia quản trị bằng cách nào; nguồn lực nhà nước và xã hội được kết nối ra sao; vấn đề phát sinh được phát hiện và xử lý từ cơ sở như thế nào; và quan trọng hơn, làm thế nào để sáng kiến từ một xã, một phường có thể được tổng kết thành kinh nghiệm cho cả Thành phố.

img-20250518-075903.jpg
Vòng tuần hoàn của kiến tạo phát triển bắt đầu từ định hướng Trung ương, nhưng thành quả cuối cùng phải được đo bằng chất lượng sống và niềm tin vững chắc của Nhân dân.

Nhìn rộng hơn, đây chính là một vòng tuần hoàn của kiến tạo phát triển: Trung ương định hướng – Thành phố thiết kế thể chế – cơ sở thử nghiệm – Nhân dân kiểm chứng – thực tiễn phản hồi – chính sách tiếp tục hoàn thiện. Bởi vậy, Nghị quyết số 18-NQ/TW đã đặt ra nhiệm vụ: “Triển khai thí điểm, tổng kết, nhân rộng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển”

Thành công của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa không chỉ được đo bằng việc Phúc Thịnh hay Thư Lâm đạt bao nhiêu trong số 54 tiêu chí. Điều quan trọng hơn là qua quá trình thí điểm, Hà Nội có tìm ra được những cơ chế mới, những cách làm hiệu quả và một phương thức quản trị thực sự gần dân, dựa trên dữ liệu, huy động được sức dân và giải quyết tốt hơn những vấn đề của đời sống hay không.

Nếu làm được điều đó, “kiến tạo phát triển từ cơ sở” sẽ không còn là một định hướng trên văn bản, mà trở thành một năng lực thực tế của hệ thống quản trị. Chính từ những thực nghiệm ở cấp gần dân nhất, những nhân tố mới của mô hình phát triển có thể được nhận diện, tổng kết và nhân rộng.

Tin cùng chuyên mục

Xin chào,
Tôi là Chatbot của
An ninh Thủ đô
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
An Ninh Thủ Đô nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!
5 điểm nghẽn của Hà Nội
giải pháp xử lý điểm nghẽn của Thủ đô
50 năm Báo An ninh Thủ đô
Công an Thủ đô Anh hùng