TỪ KỶ CƯƠNG ĐẾN PHÁT TRIỂN: VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG KIẾN TẠO MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN MỚI

KỲ 1: Khi “phát triển” không chỉ là tăng trưởng

ANTD.VN - Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam mở ra những định hướng quan trọng trong đổi mới tư duy phát triển đất nước, với trọng tâm là kiến tạo mô hình phát triển mới, hiện đại hóa quản trị xã hội và đặt con người ở vị trí trung tâm, chủ thể và động lực của phát triển, qua đó tạo nền tảng để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh, bền vững và bao trùm hơn.

Có một thời gian dài, thước đo của sự phát triển thường được định hình qua những con số bề mặt: tốc độ tăng trưởng, quy mô kinh tế hay mức thu nhập bình quân.

Nhưng những khối bê tông chọc trời hay những con số GDP tăng vọt sẽ khó trọn vẹn ý nghĩa nếu đằng sau đó là khoảng cách giàu nghèo gia tăng, môi trường xuống cấp và người dân thiếu vắng cảm giác an toàn.Nghị quyết số 19-NQ/TW ra đời mang theo một tư duy đột phá: phát triển phải gắn liền với tính tự cường, nhân văn, lấy chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt. Kỷ cương xã hội, từ chỗ thường chỉ được xem là công cụ quản lý hành chính, nay được nhận diện như một nguồn lực vô hình nhưng cốt lõi để khơi thông sự phát triển.
Để làm rõ hành trình dịch chuyển tư duy chiến lược này, Báo An ninh Thủ đô trân trọng giới thiệu loạt bài viết chuyên sâu của Thiếu tá, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành (Giảng viên Khoa Nghiệp vụ cơ bản, Trường Đại học Cảnh sát Nhân dân)...

dji-0403.jpg
Môi trường xã hội có kỷ cương, trật tự chính là nguồn lực vô hình giúp các đô thị lớn tối ưu hóa chi phí và khơi thông đà phát triển.

Từ thước đo tăng trưởng đến thước đo phát triển

Có một thời gian dài, khi nói đến phát triển, người ta thường nghĩ trước hết đến tốc độ tăng trưởng, quy mô nền kinh tế hay mức thu nhập bình quân đầu người. Những con số ấy vẫn rất quan trọng, bởi không có nền tảng kinh tế đủ mạnh thì khó có điều kiện để đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội, quốc phòng hay bảo vệ môi trường. Nhưng trong bối cảnh mới, chỉ nhìn vào tăng trưởng là chưa đủ.

Một nền kinh tế có thể tăng nhanh, nhưng nếu khoảng cách xã hội gia tăng, môi trường xuống cấp, người dân thiếu cảm giác an toàn, chất lượng dịch vụ công chậm được cải thiện, niềm tin xã hội suy giảm thì rất khó gọi đó là phát triển theo nghĩa đầy đủ.

Còn nhớ trong bài viết quan trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí đã khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội.” . Chính vì vậy, câu hỏi của phát triển hôm nay không chỉ là “tăng bao nhiêu?”, mà còn là “tăng trưởng ấy tạo ra chất lượng sống như thế nào?”, “ai được thụ hưởng?”, và “xã hội trở nên tốt hơn đến đâu?”.

Đại hội XIV của Đảng ta cho thấy sự đổi mới, đột phá mạnh mẽ về mọi mặt. Tư duy mới về mô hình phát triển đang dịch chuyển từ cách tiếp cận thiên về lượng sang cách tiếp cận coi trọng cả lượng và chất; từ việc lấy tăng trưởng làm chỉ báo trung tâm sang xem xét đồng thời sức mạnh kinh tế, chất lượng xã hội, văn hóa, môi trường, năng lực quản trị và sự phát triển của con người.

Hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XIV, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam (Nghị quyết số 19-NQ/TW) đã thể hiện khá rõ sự chuyển dịch này khi xác định mô hình phát triển mới phải hướng tới tính tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người làm trung tâm, đồng thời coi chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu xuyên suốt.

Điểm đáng chú ý ở đây là tăng trưởng không bị hạ thấp vai trò, mà được đặt vào một hệ quy chiếu rộng hơn. Tăng trưởng vẫn cần nhanh, thậm chí phải tạo ra những đột phá mới về năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó đồng thời tạo ra một xã hội ổn định hơn, công bằng hơn, an toàn hơn, văn minh hơn và tạo nhiều cơ hội phát triển hơn cho mỗi người dân.

Nếu nhìn theo cách đó, những thước đo như chất lượng sống, mức độ an toàn, niềm tin xã hội hay hạnh phúc của người dân không còn là những chỉ số “phụ” đứng ngoài kinh tế. Chúng ngày càng trở thành những tiêu chí phản ánh trực tiếp chất lượng của mô hình phát triển.

Từ những ngày đầu lập quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” cho đến những lời căn dặn cuối cùng trong Di chúc, Người vẫn nhấn mạnh yêu cầu “không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” . Xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu của độc lập, của xây dựng đất nước và rộng hơn là của phát triển, cuối cùng đều hướng tới cuộc sống thực tế của Nhân dân.

Tinh thần ấy tiếp tục được kế thừa và phát triển trong tư duy về mô hình phát triển Việt Nam hiện nay. Nghị quyết số 19-NQ/TW không chỉ xác định mục tiêu phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, môi trường sinh thái, quốc phòng – an ninh và hội nhập quốc tế, mà còn hướng tới nâng cao chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân.

Đặc biệt, bên cạnh hai mục tiêu 100 năm được xác định tại Đại hội XIII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội XIV, Nghị quyết 19-NQ/TW mở rộng tầm nhìn phát triển đến năm 2130: “Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hoá giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.”

npk-8748.jpg
Tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự trọn vẹn khi mỗi người dân được thụ hưởng cuộc sống an toàn

Kỷ cương xã hội phải trở thành nguồn lực của phát triển

Nếu phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng, thì một câu hỏi khác cần được đặt ra: Điều gì tạo nên một môi trường xã hội thuận lợi cho phát triển? Vốn, công nghệ, nhân lực hay kết cấu hạ tầng là những nguồn lực dễ nhận thấy. Nhưng để những nguồn lực ấy được huy động và vận hành hiệu quả, còn cần một nền tảng ít hữu hình hơn: một xã hội có kỷ cương, an toàn và niềm tin.

Điều này có thể thấy ngay trong đời sống hằng ngày. Một đô thị có trật tự giao thông tốt giúp tiết kiệm thời gian và chi phí xã hội; một môi trường kinh doanh thượng tôn pháp luật tạo điều kiện cho cạnh tranh lành mạnh; thủ tục hành chính minh bạch, thông suốt giúp người dân, doanh nghiệp giảm chi phí; một cộng đồng có những chuẩn mực ứng xử được tôn trọng sẽ hạn chế xung đột và tạo điều kiện cho hợp tác. Ngược lại, sự tùy tiện, vi phạm pháp luật hay những bất ổn kéo dài đều có thể trở thành những “chi phí vô hình” làm suy giảm nguồn lực phát triển.

Bởi vậy, kỷ cương và phát triển không phải là hai mục tiêu tách rời. Kỷ cương tạo ra sự ổn định cần thiết cho phát triển; phát triển lại tạo thêm những điều kiện để củng cố kỷ cương. Đảng ta thường xuyên nhấn mạnh: “lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển”

Nhưng kỷ cương trong mô hình phát triển mới không đồng nghĩa với quản lý chặt hơn bằng các biện pháp hành chính. Đích đến rộng hơn là hình thành một xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển đã đặt các yếu tố ấy trong một chỉnh thể thống nhất, gắn kỷ cương với pháp luật và chuẩn mực xã hội, gắn an toàn với an ninh con người, gắn văn minh với văn hóa, đồng thời hướng tới củng cố đồng thuận và niềm tin xã hội.

Sự thay đổi trong cách nhìn về kỷ cương cũng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với các lực lượng trực tiếp bảo vệ an ninh, trật tự, trước hết là lực lượng Công an nhân dân. Nếu trước đây việc bảo đảm an ninh, trật tự thường dễ được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ giữ gìn ổn định và xử lý vi phạm, thì trong yêu cầu phát triển mới, nhiệm vụ ấy còn phải góp phần tạo lập một môi trường an ninh, an toàn, thuận lợi cho phát triển.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh: “An ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới phải kiến tạo phát triển, tạo nền tảng cho thành công của phát triển nhanh, bền vững, nâng cao mọi mặt đời sống nhân dân”. Qua đó, yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nâng cao tính chủ động và tinh thần phục vụ; từ thực tiễn công tác kịp thời phát hiện, tham mưu giải pháp, tháo gỡ khó khăn, bịt kín những sơ hở, giải quyết những sai phạm, mâu thuẫn từ sớm, qua đó khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển.

Thực tiễn đã bắt đầu cho thấy những biểu hiện cụ thể của tư duy này. Tại Thanh Hóa, lực lượng Công an đã tham mưu tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong đầu tư, xây dựng và hoạt động sản xuất, kinh doanh tại cảng thuộc Khu kinh tế Nghi Sơn; tham gia bảo đảm ổn định nguồn cung xăng dầu, giữ vững an ninh công nhân và an toàn hoạt động sản xuất tại các khu, cụm công nghiệp.

Những công việc tưởng như nằm ở giao điểm giữa an ninh và kinh tế cho thấy khi những nguy cơ về an ninh, trật tự được nhận diện và giải quyết từ sớm, môi trường đầu tư, sản xuất và kinh doanh cũng được củng cố. Ở phạm vi rộng hơn, trong tháng 7/2026, lực lượng Công an đã đồng thời triển khai các đợt đấu tranh với tội phạm công nghệ cao, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ma túy, môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm và các đường dây tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia.

1778214955905.jpg
Lực lượng Công an chủ động phòng ngừa, tấn công, trấn áp tội phạm trên không gian mạng

Bộ Công an đánh giá những hoạt động này góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Những kết quả ấy cho thấy “an toàn cho phát triển” ngày nay không chỉ là giữ gìn trật tự trên đường phố, mà còn bao gồm an toàn của môi trường đầu tư, không gian mạng, hoạt động sản xuất, đời sống dân cư và các nguồn lực của nền kinh tế.

Ở một tầng sâu hơn, kỷ cương còn tạo ra niềm tin. Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ, người dân yên tâm sinh sống, doanh nghiệp tin tưởng đầu tư, từ đó tạo thêm đồng thuận và khơi thông các nguồn lực xã hội.

Trong kỷ nguyên số, câu chuyện về niềm tin còn được mở rộng sang một không gian mới. Ngày 18/8/2025, tại Hà Nội, Liên minh Niềm tin số (Digital Trust Alliance - DTA) chính thức ra mắt trong khuôn khổ Hội nghị “KOL với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, do Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an phối hợp với Hiệp hội An ninh mạng quốc gia tổ chức. Liên minh tập hợp người có ảnh hưởng, doanh nghiệp, cơ quan báo chí - truyền thông và các tổ chức xã hội nhằm cùng kiến tạo môi trường số an toàn, minh bạch, nhân văn, góp phần củng cố niềm tin trên không gian mạng.

Sự ra đời của DTA gợi mở một vấn đề đáng chú ý: niềm tin xã hội ngày nay không chỉ được kiến tạo trong những quan hệ trực tiếp, mà còn phải được xây dựng và bảo vệ trong không gian số – nơi con người ngày càng giao tiếp, giao dịch, tiếp nhận thông tin và thiết lập các quan hệ xã hội thông qua các nền tảng công nghệ. Sau một năm hoạt động, DTA đã quy tụ 125 thành viên chính thức, gồm 51 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ và 74 cá nhân có tầm ảnh hưởng, cho thấy nhu cầu xây dựng một hệ sinh thái niềm tin trên môi trường số ngày càng trở nên rõ nét.

Vì thế, xây dựng xã hội kỷ cương không chỉ để xã hội trật tự hơn, mà sâu xa hơn là để đất nước phát triển tốt hơn. Trên cơ sở đó, chức năng bảo đảm an ninh, trật tự mang thêm một ý nghĩa mới: giữ vững kỷ cương để bảo vệ phát triển, đồng thời kiến tạo môi trường an toàn để khơi thông và giải phóng các nguồn lực cho phát triển.

Đặt con người vào trung tâm của mô hình phát triển mới

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” . Trong tư tưởng của Người, Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực và chủ thể của sự nghiệp cách mạng. Kế thừa và phát triển quan điểm đó trong điều kiện mới, Đảng ta ngày càng đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Con người không chỉ được nhìn nhận như một nguồn lực phục vụ tăng trưởng, mà phải thực sự là chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Bởi một nền kinh tế lớn hơn, một đô thị hiện đại hơn hay một bộ máy quản trị hiệu quả hơn, suy cho cùng, chỉ thực sự có ý nghĩa khi những thành quả ấy được chuyển hóa thành cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho Nhân dân. Tinh thần đó được tiếp tục nhấn mạnh trong tư duy phát triển mới của Đảng: “lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển” , đồng thời lấy nâng cao chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt.

Năm 2025, tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người của Việt Nam đạt 4.970 USD, chính thức đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao theo công bố của Ngân hàng Thế giới vào tháng 7/2026. Đây là một dấu mốc quan trọng, cho thấy Việt Nam đã hiện thực hóa mục tiêu về ngưỡng thu nhập được đặt ra tại Đại hội XIII của Đảng.

Song, đặt con người vào trung tâm của phát triển không chỉ có nghĩa là nâng cao thu nhập. Thu nhập là điều kiện quan trọng để cải thiện đời sống, nhưng một cuộc sống tốt đẹp còn được tạo nên bởi nhiều giá trị khác: việc làm ổn định, môi trường sống trong lành, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế và các dịch vụ thiết yếu; được sống trong an toàn, được pháp luật bảo vệ, được tôn trọng, tham gia vào đời sống cộng đồng và có cơ hội phát triển toàn diện.

Bởi vậy, cùng với tăng trưởng và thu nhập, những khái niệm như chất lượng sống, an ninh con người, niềm tin xã hội và hạnh phúc ngày càng trở thành những thước đo quan trọng của phát triển. Đáng chú ý, hạnh phúc của người dân không còn chỉ được xem là kết quả đến sau tăng trưởng, mà trở thành một tiêu chí phản ánh chính chất lượng của tăng trưởng và phát triển.

Một trong những điều kiện căn bản để con người có thể học tập, lao động, sáng tạo và theo đuổi những mục tiêu của mình là được sống trong an toàn.

An toàn ở đây cũng cần được hiểu rộng hơn. Đó không chỉ là không có tội phạm hay không xảy ra những vụ việc gây mất trật tự. Trong một xã hội hiện đại, an ninh con người còn gắn với an toàn sức khỏe, an toàn môi trường, an toàn trên không gian mạng, an toàn dữ liệu, an toàn thực phẩm, khả năng được bảo vệ trước thiên tai, dịch bệnh, các cú sốc kinh tế - xã hội và những rủi ro mới xuất hiện cùng quá trình phát triển. Nghị quyết số 18-NQ/TW đặt vấn đề này ở vị trí đặc biệt khi xác định bảo đảm an ninh con người là mục tiêu, yêu cầu xuyên suốt của quá trình phát triển; các chủ trương, chính sách phải hướng tới bảo vệ con người, tạo điều kiện để mọi người được sống trong môi trường an toàn, khỏe mạnh và hạnh phúc.

Cách tiếp cận ấy làm thay đổi đáng kể quan niệm về mối quan hệ giữa an ninh và phát triển. An ninh không chỉ là điều kiện bên ngoài để bảo vệ một quá trình phát triển đang diễn ra. Khi lấy con người làm trung tâm, bảo đảm an ninh cho từng người dân trở thành một nội dung của chính phát triển.

thiet-ke-chua-co-ten.jpg
Mô hình tổ dân phố "Ba Nhất" đang phát huy hiệu quả tại phường Phú Thượng - TP Hà Nội

Điều đó cũng lý giải vì sao những vấn đề tưởng như rất gần gũi trong đời sống – một khu dân cư an toàn, một con đường không có “điểm đen” về tội phạm, một môi trường mạng giảm nguy cơ lừa đảo, thực phẩm được kiểm soát, những mâu thuẫn được phát hiện và giải quyết ngay từ cơ sở – lại có ý nghĩa lớn hơn những gì có thể nhìn thấy trước mắt. Đằng sau mỗi môi trường sống an toàn là khả năng người dân yên tâm làm ăn, trẻ em yên tâm học tập, doanh nghiệp yên tâm đầu tư và cộng đồng có điều kiện dành nhiều nguồn lực hơn cho phát triển.

Đặt con người vào trung tâm còn hàm chứa một yêu cầu quan trọng khác: người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả, mà phải thực sự trở thành chủ thể tham gia và tạo ra phát triển.

Theo đó, nguồn lực phát triển không chỉ nằm trong ngân sách nhà nước, các dự án đầu tư hay tài nguyên vật chất, mà còn nằm trong tri thức, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm, sự đồng thuận và khát vọng cống hiến của mỗi người dân. Một xã hội tạo dựng được niềm tin và mở rộng không gian để người dân tham gia sẽ có khả năng khơi dậy và huy động những nguồn lực rất lớn từ chính cộng đồng. Nghị quyết số 19-NQ/TW vì thế đặt ra yêu cầu phát huy tối đa tiềm năng, truyền thống, bản sắc, niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy ý chí, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến của con người Việt Nam. Đây chính là hai chiều thống nhất của quan điểm lấy con người làm trung tâm: phát triển vì con người và dựa vào con người để tạo ra phát triển.

Nhìn từ đó, ba mạch lớn của mô hình phát triển mới có sự gắn kết chặt chẽ: tăng trưởng tạo nền tảng vật chất; kỷ cương, an toàn và niềm tin tạo lập môi trường; còn con người là chủ thể tạo ra và cũng là thước đo cuối cùng của thành quả phát triển.

Bởi vậy, câu hỏi về phát triển không thể chỉ là “nền kinh tế đã lớn đến đâu?”, mà còn phải là: Người dân có sống tốt hơn, an toàn hơn, có thêm cơ hội phát triển và tin tưởng hơn vào tương lai hay không? Bởi sau cùng, giá trị của phát triển phải được đo bằng sự phát triển của con người và hạnh phúc của Nhân dân. Muốn những mục tiêu ấy không chỉ dừng lại ở định hướng, điều quyết định tiếp theo chính là năng lực lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện. Hay nói cách khác, vấn đề đặt ra là phải đổi mới phương thức lãnh đạo phù hợp với mô hình phát triển mới...

Tin cùng chuyên mục

Xin chào,
Tôi là Chatbot của
An ninh Thủ đô
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
An Ninh Thủ Đô nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!
5 điểm nghẽn của Hà Nội
giải pháp xử lý điểm nghẽn của Thủ đô
50 năm Báo An ninh Thủ đô
Công an Thủ đô Anh hùng