Ung thư buồng trứng (UTBT) là một trong những bệnh ung thư phụ khoa phổ biến, thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi từ 50 đến 65, và là loại ung thư đường sinh dục có tỷ lệ tử vong cao thứ hai sau ung thư cổ tử cung.
Theo số liệu từ GLOBOCAN, trong năm 2022 Việt Nam ghi nhận khoảng 1.500 ca mắc mới và khoảng 1.000 ca tử vong do ung thư buồng trứng. Nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được rõ ràng. Rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh và các yếu tố môi trường, chế độ ăn, sinh sản, nội tiết, virus và di truyền, trong đó yếu tố gia đình đã được xác nhận, khoảng 7% UTBT có mang tính chất gia đình.
Những phụ nữ có mẹ và chị em gái mắc bệnh này có nguy cơ mắc tăng gấp 20 lần cộng đồng. Tiền sử gia đình (chủ yếu là ở người bệnh có từ 2 người thân trực hệ bị ung thư buồng trứng) liên quan tới gen BRCA1 và BRCA2 (hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền [HBOC]).
Người bệnh UTBT có đột biến BRCA1/2 chiếm khoảng 15% (dao động từ 7%–21%) tổng số người bệnh UTBT. Tuổi cao cũng là một yếu tố nguy cơ vì tỷ lệ mắc ung thư biểu mô buồng trứng tăng dần theo số lần rụng trứng. Những người có thai trước 25 tuổi, mãn kinh sớm cũng liên quan đến giảm tỷ lệ mắc UTBT.
BSCKII. Võ Thanh Nhân – Trưởng khoa Ung bướu Phụ khoa, Bệnh viện Từ Dũ chia sẻ: “Ung thư buồng trứng thường diễn tiến âm thầm với các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn tiêu hóa thông thường. Điều này khiến nhiều bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về các dấu hiệu cảnh báo và chủ động thăm khám sớm đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân”.
Hội thảo quy tụ các chuyên gia hàng đầu về ung bướu trên cả nước
Theo các số liệu dịch tễ học, tỷ lệ sống còn sau 5 năm của người bệnh ung thư buồng trứng phụ thuộc nhiều vào giai đoạn phát hiện, với khoảng 90,5% ở giai đoạn sớm nhưng giảm xuống còn 30,2% ở giai đoạn muộn.
Tại hội thảo, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền – Trưởng khoa Nội Vú – Phụ khoa 2, Bệnh viện K chia sẻ: “Phần lớn bệnh nhân ung thư buồng trứng được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, điều này đặt ra thách thức lớn trong việc cải thiện kết quả điều trị lâu dài. Vì vậy, bên cạnh điều trị ban đầu, việc xây dựng các chiến lược kiểm soát bệnh bền vững, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thực hành lâm sàng”.
Tại Việt Nam, AstraZeneca đã và đang không ngừng thúc đẩy giải pháp toàn diện trong quản lý ung thư buồng trứng từ chẩn đoán chính xác, cá thể hóa điều trị và tư vấn di truyền. Chia sẻ về tầm nhìn trong lĩnh vực điều trị ung thư, ông Atul Tandon – Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc AstraZeneca Việt Nam cho biết: "Chúng tôi không ngừng nỗ lực đồng hành cùng cộng đồng y khoa để mang đến những tiến bộ khoa học mới nhất, đồng thời triển khai các chương trình hỗ trợ thiết thực nhằm cải thiện chất lượng sống và kết quả điều trị lâu dài cho bệnh nhân".
Ngoài ra, AstraZeneca đồng hành cùng cộng đồng y khoa trong việc thúc đẩy ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực hành lâm sàng, đặc biệt là các chiến lược điều trị cá thể hóa và điều trị duy trì nhằm cải thiện kết quả lâu dài cho người bệnh.
Đồng thời, công ty cũng tài trợ triển khai các chương trình hỗ trợ người bệnh tại các bệnh viện, bao gồm nâng cao nhận thức cộng đồng, phát triển các kênh tư vấn trực tuyến, kết nối cộng đồng bệnh nhân và triển khai các sáng kiến hỗ trợ chi phí điều trị.
Trong thời gian tới, AstraZeneca sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý bệnh ung thư buồng trứng tại Việt Nam.