Chiến công thầm lặng
Gần 80 năm trôi qua, cha tôi đã về với tổ tiên được gần 1/4 thế kỷ. Có lẽ các bác, các chú công tác cùng cha tôi trong giai đoạn những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng không còn nhiều, đa số họ đã mang theo những bí mật thầm lặng đóng góp cho cách mạng xuống tuyền đài. Có lẽ đó cũng là sự hy sinh cần có của các thế hệ hoạt động công tác và cống hiến trong lực lượng Công an nhân dân nói riêng và lực lượng vũ trang nói chung thời kỳ kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ biên giới, cũng như bảo vệ cuộc sống bình yên hôm nay.
Trong bản lý lịch đảng viên và lý lịch cán bộ của cha tôi mà gia đình cất giữ có ghi: Ông sinh ra tại Nghệ An, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Tháng 8-1945, khi giành được độc lập, với khí thế sôi sục của thành niên thời ấy, ông hăng hái làm giao thông liên lạc và tham gia xưởng in li-tô cho chính quyền lâm thời ở thị trấn Cầu Giát (Nghệ An). Năm 1947, Chính phủ Cụ Hồ rút khỏi Thủ đô, bắt đầu 9 năm trường kỳ kháng chiến. Nghệ An cũng như nhiều tỉnh thành phố khác thực hiện tiêu thổ, rào làng chiến đấu. Cha tôi thoát ly gia đình, xung phong vào lực lượng Công an nhân dân và được cấp trên điều động tham gia nhóm công tác đặc biệt xây dựng một xưởng in tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Nhiệm vụ của ông được cấp trên giao là phá hoại kinh tế của địch. Sản phẩm của “Xưởng in đặc biệt” là “một loại hàng hóa đặc biệt”. Sau khi làm xong, các ông phải đóng giả thương nhân, mặc comple, quần âu trắng, đeo ca-ra-vát, đội mũ phớt, chống ba toong đi vào vùng địch tạm chiếm để đưa “hàng hóa” ra thị trường…
Mặc dù xưởng in chỉ hoạt động trong gần 3 năm, nhưng đã có đóng góp nhất định khi gây dựng tài chính cho chính quyền non trẻ cũng như khiến nền kinh tế của địch lao đao. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bí mật mà ngành Công an giao cho, cha tôi chuyển về đơn vị Công an vũ trang đóng quân tại Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ. Chiến dịch Biên giới và chiến dịch Điện Biên Phủ được mở, ông chuyển sang Tổng Đội thanh niên xung phong, trực tiếp làm công tác hậu cần phục vụ chiến đấu. Đầu những năm 1960, vì lý do sức khỏe, ông chuyển sang công tác tại ngành Thương nghiệp Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu.
Khoảng năm 2000, nhằm tri ân chiến công thầm lặng của cán bộ, nhân viên “Xưởng in đặc biệt”, Bộ Công an tổ chức buổi gặp mặt tại Hà Tĩnh. Cố Thượng tướng Lê Minh Hương - Bộ trưởng Bộ Công an thời ấy đã gửi Thư khen và tặng quà cho từng các cán bộ, nhân viên của xưởng. Lúc này, những người tham gia cuộc gặp mặt đều đã ở ngoài cái tuổi “cổ lai hy”, người còn, người mất. Năm 2009, khi cha tôi đã là người thiên cổ, gia đình có nhận được Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Tài chính Việt Nam, ghi nhận những cống hiến của cha tôi trong thời kỳ công tác tại “Xưởng in đặc biệt” thuộc Sở Ấn loát Tài chính Trung bộ.
Lần theo những thông tin ít ỏi về nhiệm vụ đặc biệt tại xưởng in của cha và đồng đội, tôi đã tìm kiếm thêm thông tin, nhưng không có một tài liệu công khai nào ghi cụ thể về nhiệm vụ của “Xưởng in đặc biệt” này. Chỉ duy nhất trong cuốn “Các di tích lịch sử ngành Tài chính” do Nhà xuất bản Tài chính phát hành nhân dịp Kỷ niệm 70 năm thành lập ngành, tại trang 69, phần viết về các di tích thuộc Sở Ấn loát Tài chính Trung bộ có một đoạn ngắn: “Cũng trong thời điểm này, một xưởng in đặc nhiệm ra đời có tên gọi là “nhóm ấn loát đặc biệt” nằm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Công an và Khu ủy khu 4, đóng tại xã Sơn Tân, sau chuyển về Mỹ Hòa, nay gọi là Sơn Hòa...”.
Như vậy, “Xưởng in đặc biệt” giai đoạn cuối những năm 1949 hoạt động tới năm 1952 thuộc biên chế của lực lượng Công an nhân dân đã được ghi vào sử sách. Những cán bộ nhân viên tham gia xưởng in được Bộ Công an gửi Thư khen, trong đó có cha tôi (ông Trần Văn Bằng), bác tôi (ông Nguyễn Đình Duệ, một trong những người phụ trách xưởng in). Một cái tên liên quan đến xưởng in thường xuyên được bác Nguyễn Đình Duệ gọi là cấp trên khi nói chuyện với cha tôi, đó là đồng chí Nguyễn Tạo - nguyên Trưởng Ty Điệp báo Nha Công an Trung ương (sau là Trưởng ty Công an Hà Nội (1950-1951), Cục trưởng Cục Chấp pháp đầu tiên của Bộ Công an (1953)…
Nhiệm vụ cụ thể của xưởng in, vì nhiều lý do đã không được nhắc đến trong Thư khen của Bộ Công an, Kỷ niệm chương của Bộ Tài chính, cũng như các tài liệu công khai khác. Song với bác tôi, cha tôi và các đồng đội ở xưởng in đã về bên kia thế giới, thì dù không được ghi lại chiến công thầm lặng, nhưng được cống hiến cho thành công của cách mạng cũng đã khiển các bác, các cụ bằng lòng mà mìm cười nơi chín suối.
Cốt cách thế hệ Điện Biên
Cha tôi là thế hệ đã góp máu xương vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Đó là thế hệ chống Pháp từng trải, sinh ra và lớn lên dưới ách đô hộ của chế độ thực dân. Họ có lòng tự trọng dân tộc, đau xót và đồng cảm khi thấy đồng bào bị bóc lột, bị nạn đói hoành hành đang phải oằn mình dưới gót giày của quân viễn chinh xâm lược. Họ tự nguyện thoát ly gia đình đi theo cách mạng, đi theo lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Độc lập hay là chết” là quyết tâm, là ý chí hành động của thế hệ Điện Biên như cha tôi.
Có thể nói, một bộ phận không nhỏ thế hệ làm nên chiến thắng Điện Biên là cán bộ tiền khởi nghĩa, nhưng không bao giờ tự cao, tự đại, tự mãn. Họ là những người đặt nền móng, đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Thế hệ các cụ ngày xưa “bôn-sê-vích” lắm. Ngày xưa các cụ sống trong sáng, có lý tưởng; làm gì biết đến tham ô, tham nhũng; làm gì biết đến tha hóa, đồi bại; làm gì biết luồn cúi, nịnh bợ, ô dù để vụ lợi cá nhân...” - đó đánh giá của thế hệ hôm nay khi nhìn về thế hệ chống Pháp như cha tôi. Vâng, khẳng khái là đặc trưng tính cách của cha tôi cũng như một số bạn bè của ông cùng thế hệ.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cha tôi không may bị thương khi làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược cho mặt trận. Sau này, khi công tác trong ngành thương nghiệp, ông nhận được giấy mời của cơ quan thương binh xã hội gửi về mời lên làm chế độ thương binh, điều đó khiến ông bất ngờ. Cha tôi tự nhủ, chắc có sự nhầm lẫn nào đó vì ông chỉ là thanh niên xung phong, không phải là bộ đội chính quy nên đã từ chối không làm chế độ. Sau này, khi báo đài đưa tin một số vụ tiêu cực làm giấy chứng nhận thương binh giả, nhìn vết sẹo to tướng ở chân cha, chúng tôi lại trách ông quá khẳng khái, cha tôi chỉ cười.
Cha tôi đã khuất bóng, thế hệ Điện Biên như cha tôi chắc cũng không còn nhiều nữa. Nếu còn thì cũng đã sống tới gần 1 thế kỷ. Lật giở những kỷ vật của người cha kính yêu, trong đó có nhiều huân huy chương, bằng khen, tôi nhớ lại hình ảnh thân thương về cha mình. Thế hệ của các ông mãi mãi là tấm gương sáng ngời về đạo đức, nhân cách, trong bất cứ việc gì cũng đặt lòng tự trọng cá nhân lên trên hết, điều đó đáng để con cháu học tập và noi theo.