Tại Công văn 250/TANDTC-PC, TANDTC đã hướng dẫn trường hợp người bị tuyên án tử hình trước 1/7/2025 về tội sản xuất trái phép chất ma túy hoặc mua bán trái phép chất ma túy có thể được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu đáp ứng một số điều kiện theo quy định.
Theo Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự (BLHS) 2025, trường hợp hình phạt tử hình đã tuyên trước 1/7/2025 với người phạm các tội danh nêu trên mà chưa thi hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu:
Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án lớn hơn mức tối thiểu quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 BLHS; Người phạm tội không phải là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có từ 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.
Trường hợp bản án không xác định người phạm tội là chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy; đồng thời không xác định người đó có từ 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên thì Tòa án xem xét quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người phạm tội, không phụ thuộc vào khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án.
Đối với Tội sử dụng trái phép chất ma túy, người đang trong thời hạn cai nghiện, quản lý sau cai nghiện hoặc trong thời hạn 2 năm kể từ ngày kết thúc quản lý sau cai nghiện mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phụ thuộc các thời hạn này phát sinh trước hay sau 1/7/2025.
Ngoài ra, TAND Tối cao cũng hướng dẫn trường hợp người nghiện ma túy đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế nhưng không có quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện của Chủ tịch UBND cấp xã thì không có căn cứ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngoài nội dung trên, Văn bản 250/TANDTC-PC còn hướng dẫn cách tính tiền tịch thu của toà án về hành vi cho vay lãi nặng.
Theo quy định hiện hành, phải tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với khoản tiền, tài sản khác mà người phạm tội dùng để cho vay.
Với trường hợp cho vay nhiều lần nhưng mỗi lần giao dịch có số tiền gốc là độc lập, không liên quan đến nhau thì số tiền cho vay là tổng số tiền gốc của từng lần giao dịch.
Trường hợp cho vay nhiều lần nhưng lần giao dịch sau có số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu cộng với tiền lãi của lần trước mà chưa trả thì số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu.
Ví dụ, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay lần 1 với số tiền gốc là 10 triệu đồng trong 7 ngày với lãi suất là 1,4 triệu đồng (20.000 đồng/ 1 triệu đồng/ 1 ngày). Đến hạn B không trả được nợ cho A nên A tiếp tục lập giấy vay nợ lần 2 với tổng số tiền là 11,4 triệu đồng (bao gồm tiền gốc và lãi lần 1) trong thời hạn 7 ngày với lãi suất 17,556 triệu đồng.
Trong trường hợp này, số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu được xác định là 10 triệu đồng.