Doanh thu khối thị trường nước ngoài của Viettel đạt 3,34 tỷ USD trong năm 2025. Đây đã là năm thứ 9 liên tiếp, Viettel duy trì mức tăng trưởng hai con số tại thị trường quốc tế – một thành tích hiếm gặp trong ngành viễn thông toàn cầu, đặc biệt khi phần lớn các thị trường mà Viettel hiện diện đều là các quốc gia đang phát triển, nơi rủi ro kinh tế – chính trị thường cao hơn mức trung bình.
Quy mô hoạt động của Viettel ở nước ngoài cũng tiếp tục được mở rộng. Tổng số thuê bao di động quốc tế đạt 56 triệu, chính thức vượt quy mô thuê bao tại Việt Nam. Trong 10 nước Viettel đầu tư thì có 7 nước Viettel chiếm vị trí dẫn đầu, gồm Unitel (Lào), Metfone (Campuchia), Mytel (Myanmar), Telemor (Đông Timor), Lumitel (Burundi), Natcom (Haiti) và Movitel (Mozambique).
Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư ra nước ngoài cũng “vào guồng”. Năm 2025, dòng tiền chuyển về Việt Nam từ các thị trường quốc tế của tập đoàn này đạt 385,5 triệu USD, hoàn thành 120% kế hoạch.
Tính đến hết năm 2025, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư ra nước ngoài của Viettel đạt 91%, về đích sớm hơn so với kế hoạch mục tiêu.
Ở thị trường được đánh giá là khó khăn bậc nhất, Peru, tập đoàn này cũng ghi dấu ấn lớn khi công ty tại thị trường Bitel vươn lên vị trí số 2 tại, sớm hơn 2 năm so với mục tiêu, bất chấp việc phải cạnh tranh với những gã khổng lồ viễn thông tầm cỡ thế giới.
Một trong những điểm đáng chú ý là việc Viettel lựa chọn đầu tư vào những thị trường còn nhiều thách thức – nơi hạ tầng viễn thông chưa hoàn thiện, môi trường kinh doanh phức tạp và nhu cầu kết nối còn lớn.
Thay vì tập trung vào các thị trường đã phát triển và cạnh tranh cao, Viettel ưu tiên những nền kinh tế đang phát triển, nơi viễn thông và công nghệ số vẫn còn nhiều dư địa để đóng góp cho tăng trưởng và đời sống xã hội.
Song song với dịch vụ viễn thông truyền thống, Viettel cũng triển khai nhiều nền tảng số như ví điện tử, chính phủ điện tử và các giải pháp giáo dục, y tế trực tuyến. Ở một số thị trường châu Phi và Đông Nam Á, những dịch vụ này góp phần giúp người dân tiếp cận các tiện ích số cơ bản, từ thanh toán, học tập đến tiếp cận thông tin và dịch vụ công.