Hà Nội cần xây dựng các lễ hội truyền thống thành sản phẩm công nghiệp văn hóa

ANTD.VN - Hà Nội là địa phương sở hữu các lễ hội truyền thống lớn nhất cả nước với 1.661 lễ hội trên toàn thành phố. Đây là tiềm năng lớn trong khai thác du lịch văn hóa, đặc biệt là hướng tới mục tiêu chuyển lễ hội từ hoạt động tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa truyền thống thuần túy thành sản phẩm của công nghiệp văn hóa, gắn với phát triển du lịch bền vững.

Lợi thế tiềm năng

Theo số liệu của Bộ VH-TT&DL, cả nước có 7.966 lễ hội, riêng Hà Nội có 1.661 lễ hội, là địa phương có số lượng lễ hội lớn nhất cả nước. Lễ hội dân gian của Hà Nội chiếm 88,36%, bên cạnh lễ hội tôn giáo, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội du nhập từ nước ngoài và các lễ hội khác. Đặc biệt, Hà Nội tập trung nhiều lễ hội lớn của vùng như: Lễ hội đền Cổ Loa, lễ hội gò Đống Đa, lễ hội chùa Hương, lễ hội chùa Thầy, lễ hội Bát Tràng, lễ hội đền Gióng - Sóc Sơn, lễ hội đền Hai Bà Trưng - Mê Linh, lễ hội Võng La… Trong số này có nhiều lễ hội được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như lễ hội đền Cổ Loa, lễ hội chùa Tây Phương, lễ hội chùa Thầy… hay Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại như lễ hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc.

chua-thay-12.jpg
Lễ hội chùa Thầy được ghi vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Với nguồn lực đồ sộ về di sản, đặc biệt là các lễ hội dân gian hiện có, Hà Nội có cơ sở để khai thác và phát huy trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt là du lịch văn hóa. Điều này là hoàn toàn có cơ sở khi nhiều nước trên thế giới đã khai thác thành công các lễ hội dân gian thành sản phẩm công nghiệp văn hóa. Cụ thể như Thái Lan với lễ hội té nước Songkran; Trung Quốc với lễ hội thuyền rồng, lễ hội Trung thu; Nhật Bản với lễ hội đèn lồng Nagasaki, lễ hội hoa anh đào Hanami; Đức với lễ hội bia Oktoberfest… Các lễ hội này được tổ chức hàng năm và thu hút lượng du khách đông đảo đến từ nhiều nước trên thế giới và người dân từ các địa phương khác tới tham dự, mang lại nguồn thu cực lớn cho địa phương tổ chức lễ hội.

Chưa kể Hà Nội là địa phương có số lượng dân cư đông đúc vào hàng lớn nhất cả nước. Nơi đây tập trung hàng trăm trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề, là nơi hội tụ con người 4 phương về sinh sống và lập nghiệp với cơ cấu dân số trẻ. Hơn thế, Hà Nội còn là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của đất nước, là nơi tập trung đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, những người có trình độ văn hóa và kiến thức, có nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa lớn. Không những thế, Hà Nội hiện đang thiếu rất nhiều không gian công cộng để người dân tới thụ hưởng, nâng cao đời sống tinh thần, thì những sản phẩm du lịch văn hóa như lễ hội vào dịp đầu năm cũng là những gợi mở cho các nhà tổ chức hướng tới việc biến lễ hội thuần túy thành một sản phẩm công nghiệp văn hóa. Về vị trí địa lý, Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm của miền Bắc, kết nối giao thông với các tỉnh khác thông qua hệ thống đường sắt, đường bộ, đường hàng không. Hà Nội có tuyến đường sắt liên vận tới Bắc Kinh (Trung Quốc), có đường hàng không quốc tế đi các châu lục, rất tiện lợi trong giao thương quốc tế, phát triển du lịch văn hóa - một lĩnh vực của công nghiệp văn hóa.

le-ruoc-cau-huc-trong-le-hoi-giong-soc-son.jpg
Hội Gióng Sóc Sơn - Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Mục tiêu phát triển

Vừa qua, Hà Nội đã ban hành Kế hoạch quản lý lễ hội năm 2026. Bên cạnh những vấn đề về điều hành và quản lý thì có một điểm rất đáng chú ý là mục tiêu biến các lễ hội thuần túy thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, khai thác du lịch văn hóa bền vững. Không chỉ trong năm 2026, những năm qua Hà Nội rất quan tâm đến lợi thế về việc sở hữu hệ thống di tích dày đặc, số lượng phong phú các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Thủ đô. Thành ủy Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU “về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” làm bước đột phá trong phát triển văn hóa Thủ đô. Nghị quyết số 09-NQ/TU đã định hình rõ 13 lĩnh vực mũi nhọn Hà Nội tập trung triển khai gồm: Du lịch văn hóa; nghệ thuật biểu diễn; thủ công mỹ nghệ; thiết kế, quảng cáo, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; điện ảnh, thời trang; ẩm thực; phần mềm và các trò chơi giải trí; truyền hình và phát thanh, xuất bản. Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU, bức tranh công nghiệp văn hóa Thủ đô đã có nhiều khởi sắc. Nhiều sản phẩm du lịch gắn với công nghiệp văn hóa được ra mắt, trở thành mô hình điểm tạo sức bật cho những sáng tạo mới. Hà Nội cũng hình thành những lễ hội văn hóa, sáng tạo quy mô lớn, thu hút hàng vạn, thậm chí hàng triệu người tham dự. Điển hình như: Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội, Lễ hội Áo dài du lịch Hà Nội, Lễ hội Ẩm thực Hà Nội, Lễ hội Quà tặng du lịch Hà Nội, Lễ hội thu Hà Nội... và mới đây là Lễ hội Văn hóa thế giới Hà Nội.

Vậy lễ hội truyền thống của Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung có những lợi thế nào trong việc khai thác thành sản phẩm công nghiệp văn hóa? Bà Trương Uyên Ly - chuyên gia tư vấn truyền thông và văn hóa cho rằng, các lễ hội truyền thống được sản sinh từ văn hóa, niềm tin và lịch sử lâu đời, nhằm gánh vác các nhiệm vụ mang tính bảo tồn, gửi gắm giá trị tinh thần và nhắc nhở về lịch sử. Các lễ hội này cho thấy một số các biểu hiện của công nghiệp văn hóa, ví dụ nguồn thu từ khách du lịch, cơ hội phát triển các dịch vụ và hàng hóa có tính thời điểm liên quan đến lễ hội. Để tạo ra sản phẩm công nghiệp văn hóa thì cũng nên tạo ra một hoặc nhiều lễ hội mới, được nghiên cứu và xây dựng một cách bài bản, có tính thời thượng và đáp ứng nhu cầu của nhóm khách hàng, đối tượng mục tiêu nhất định.

Tạo nguồn thu cho Thủ đô

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương - chuyên gia về công nghiệp văn hóa nhấn mạnh tính thương mại của một sản phẩm công nghiệp văn hóa. Theo đó, đã là sản phẩm văn hóa thì phải được thị trường đón nhận và phải có mục tiêu doanh thu rõ ràng. Lễ hội muốn thành một sản phẩm công nghiệp văn hóa cũng không nằm ngoài quy luật này. Cần lưu ý rằng, nếu không có công nghiệp văn hóa thì văn hóa vẫn phát triển song hành với sự phát triển kinh tế xã hội của con người. Và các lễ hội vẫn diễn ra do nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng cũng như do thực hành văn hóa, tập quán của cộng đồng. Nếu muốn biến lễ hội thành sản phẩm công nghiệp văn hóa thì Hà Nội cần phân loại và quy hoạch lễ hội một cách hệ thống với các tiêu chí rõ ràng. Đó là tính phổ quát, tính hấp dẫn tự nhiên, tính độc bản và biên độ phát triển. Trong đó, tính phổ quát chính là điều kiện đầu tiên, có thể gọi là mức độ nổi tiếng của lễ hội và dễ được chia sẻ, được đón nhận bởi số đông bất kể khác biệt về quốc tịch, giới tính, tuổi tác, như Tết Trung thu, Tết Hàn thực, lễ hội tôn vinh những vị thần, thánh hay những anh hùng dân tộc ai cũng biết tên. Tính hấp dẫn tự nhiên là vẻ đẹp thiên nhiên, câu chuyện sâu sắc, hoạt động lôi cuốn, hay về phần lễ, vui về phần hội. Tính độc bản tạo nên giá trị độc nhất, đại diện cho cả nền văn hóa Việt Nam để trở thành một thương hiệu mạnh, Và cuối cùng biên độ phát triển là thước đo khả năng biến hóa của lễ hội thành các sản phẩm phái sinh, sản phẩm bán chéo, sản phẩm có nhiều tầng giá trị, sản phẩm được tăng giá trị qua thời gian và sản phẩm có thể được nâng cấp qua thời gian. Chỉ những lễ hội nào đảm bảo được 4 tiêu chí này mới nên đưa vào diện đầu tư, khai thác, để xây dựng thành sản phẩm công nghiệp văn hóa tiêu biểu, tạo ra hệ giá trị quốc gia.

“Tôi nhìn thấy ở Hà Nội tiềm năng của thị trường công nghiệp văn hóa khổng lồ với dân số gần 9 triệu người, gần 34 triệu lượt khách du lịch năm 2025 trong đó gần 8 triệu là khách du lịch quốc tế. Đây thực sự là một thị trường trong mơ của bất cứ nhà đầu tư, bất kỳ một tổ chức, cá nhân sáng tạo nào. Lễ hội có thể trở thành một sản phẩm công nghiệp văn hóa có tính phức tạp vào hàng bậc nhất và cũng có thể mang lại những nguồn thu lớn nhất với sự tham gia của nhiều chủ thể, trong một không gian lớn chứa được nhiều sản phẩm cùng một lúc và có thể được tiếp cận bởi mọi thành phần trong xã hội. Cũng chính vì sự phức tạp và độ lớn của không gian như vậy nên để xây dựng được bộ tiêu chí phân loại lễ hội, Hà Nội cần có sự hỗ trợ của các chuyên gia nghiên cứu, đánh giá tổng thể và bài bản. Mục tiêu là để xác định được trong hàng nghìn lễ hội ở Hà Nội, đâu sẽ là lễ hội điểm đến nơi ai cũng cảm thấy mình phải đến, đã đến thì sẽ phải chơi hết mình, tiêu hết túi tiền và cảm thấy chơi thật đã, tiêu thật đã” - Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương nói.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Quý Phương cũng cho biết, doanh thu của lễ hội đến từ nhiều nguồn như nguồn bán vé, nguồn tài trợ, nguồn cho thuê các không gian thương mại, doanh thu từ tổ chức sự kiện, tổ chức live show, concert bán vé, cho thuê không gian quảng cáo, cho thuê không gian sự kiện với lượt tương tác cao, từ bán sản phẩm tại chỗ và từ bán chéo các sản phẩm liên kết cũng như bán sản phẩm gián tiếp…. Nguồn doanh thu của lễ hội có thể lớn vô cùng vì tâm lý đi hội là để dành cả năm để tiêu tiền. Ngay cả những thứ không thiết yếu được bày bán trong lễ hội cũng dễ dàng được du khách mua sắm.

Tận dụng những cơ hội

Dù tiềm năng của lễ hội truyền thống thành sản phẩm công nghiệp văn hóa là có, song đến nay các lễ hội của Hà Nội đều dừng lại ở những lễ hội thuần túy thông thường. Việc chuyển biến trong tư duy và nhận thức của những người làm văn hóa còn diễn ra khá chậm chạp. Trong đó nguồn di sản và các lễ hội truyền thống vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Có nhiều thử nghiệm trong tổ chức lễ hội đã diễn ra, có thể kể đến việc tổ chức Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội mùa 5 năm 2026 đã tạo ra một sân chơi cho đội ngũ sáng tạo được giới thiệu, trưng bày các ý tưởng mới mẻ. Trong đó có không ít ý tưởng được xây dựng từ vốn cổ của cha ông. Và lễ hội này có thể xem như cách tạo ra một lễ hội mới của Hà Nội, hướng trực tiếp tới việc xây dựng lễ hội là một sản phẩm công nghiệp văn hóa, tạo doanh thu cho địa phương. Bằng việc thay đổi cách tổ chức từ sự kiện sang xây dựng hệ sinh thái, Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội đang từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của người dân.

Ông Trương Minh Tiến - Chủ tịch Hiệp hội UNESCO Hà Nội cho rằng, dù bước đầu gặt hái thành công trong lĩnh vực văn hóa, tuy nhiên Hà Nội vẫn phải đối diện với không ít thách thức từ nhận thức xã hội về công nghiệp văn hóa chưa đồng đều, nhiều di sản văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một trước cơn lốc phát triển của thị trường. Để phát triển Hà Nội trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa sáng tạo mang tầm khu vực, Hà Nội cần hoàn thiện thể chế và chính sách ưu đãi đặc thù, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp văn hóa - sáng tạo, khuyến khích đầu tư xã hội hóa; xây dựng hạ tầng sáng tạo đồng bộ, hình thành các “khu công nghiệp văn hóa”, “trung tâm sáng tạo đô thị” tại khu vực ven đô như: Đông Anh, Gia Lâm, Long Biên...

Tin cùng chuyên mục