Từ 1-7: Áp dụng nhiều quy định mới đảm bảo quyền lợi cho người không có nơi cư trú rõ ràng

  • 07/06/2021 11:11
  • 0 bình luận
  • H.L
  • In bài
ANTD.VN - Theo quy định hiện hành, người không có nơi cư trú rõ ràng, bị hạn chế nhiều quyền liên quan đến cư trú. Tuy vậy, từ 1-7, khi Luật Cư trú 2020 có hiệu lực thi hành, việc xác định nơi cư trú cho nhóm đối tượng này được quy định rõ ràng hơn, từ đó quyền công dân của họ sẽ được đảm bảo tốt hơn.

Luật Cư trú 2006 và Nghị định 31/2014/NĐ-CP quy định, nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định trên thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và phải có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.

Song theo Điều 19 Luật Cư trú 2020, từ 1-7, nơi cư trú của người không có cả nơi thường trú và nơi tạm trú do không đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú là nơi ở hiện tại của người đó; trường hợp không có địa điểm chỗ ở cụ thể thì nơi ở hiện tại được xác định là đơn vị hành chính cấp xã nơi người đó đang thực tế sinh sống. Người không có nơi thường trú, nơi tạm trú phải khai báo thông tin về cư trú với cơ quan đăng ký cư trú tại nơi ở hiện tại.

Từ 1-7: Áp dụng nhiều quy định mới đảm bảo quyền lợi cho người không có nơi cư trú rõ ràng ảnh 1

Nhiều quy định mới nhằm đảm bảo quyền lợi cho người không có nơi cư trú rõ ràng có hiệu lực từ 1-7

Đối chiếu các quy định trên có thể thấy, từ 1-7, việc xác định nơi cư trú của người không có cả thường trú và tạm trú được hướng dẫn rõ ràng, cụ thể hơn nhiều so với trước. Bên cạnh đó, Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Cư trú đang được Bộ Công an lấy ý kiến cũng nêu rõ:

Sau khi kiểm tra, xác minh thông tin cư trú mà công dân đã khai báo là chính xác thì cơ quan đăng ký cư trú cấp số định danh cá nhân cho công dân nếu công dân đó chưa có số định danh cá nhân. Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm cập nhật thông tin của công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo, cấp Giấy xác nhận về việc khai báo cư trú cho công dân.

Người đã được cấp Giấy xác nhận về việc khai báo cư trú có trách nhiệm đăng ký thường trú hoặc tạm trú ngay khi đủ điều kiện theo quy định của Luật Cư trú; trường hợp vẫn chưa đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú nhưng có thay đổi về thông tin nhân thân thì phải khai báo lại với Công an cấp xã nơi đã cấp Giấy xác nhận để rà soát, cập nhật thông tin về nhân thân lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú.

UBND cấp xã căn cứ vào Giấy xác nhận về việc khai báo cư trú của công dân và thông tin của công dân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tiến hành việc cập nhật thông tin về hộ tịch và cấp giấy tờ liên quan đến nhân thân cho công dân theo thẩm quyền.

Như vậy, theo quy định trên, người không có nơi thường trú, nơi tạm trú phải khai báo thông tin về cư trú với cơ quan đăng ký cư trú tại nơi ở hiện tại.

Sau khi được khai báo, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm hướng dẫn việc khai báo thông tin về cư trú theo các trường hợp thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú.

Trường hợp người khai báo chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận thông tin khai báo, cơ quan đăng ký cư trú tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin; trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày.

Trường hợp người khai báo đã có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận thông tin khai báo, cơ quan đăng ký cư trú tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin.

Tin cùng chuyên mục