Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa tổng hợp vướng mắc khi triển khai Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/NQ-CP về quản lý an toàn thực phẩm và kiến nghị Chính phủ một số giải pháp.
Mặc dù 2 văn bản này sau khi có hiệu lực đã tạm dừng áp dụng đến hết ngày 15-4-2026, tuy nhiên sau khi tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, VCCI vẫn có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan.
VCCI và cộng đồng doanh nghiệp nhất quán quan điểm rằng tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là yêu cầu chính đáng và cần thiết. Bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng là mục tiêu tối thượng không thể thỏa hiệp.
Tuy nhiên, những vướng mắc của Nghị định này gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp nếu được thực thi. Cụ thể, về kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu, Nghị định 46 đã bãi bỏ quy định miễn kiểm tra nhà nước đối với nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến và bao bì nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất nội bộ, không tiêu thụ tại thị trường trong nước, một quy định được đánh giá là hợp lý và thực tiễn trong suốt 8 năm áp dụng Nghị định 15/2018/NĐ-CP.
Hệ quả là toàn bộ các lô nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất, bao gồm cả đường mía, lá trà, hương liệu, bao bì, nắp chai, khí CO2… đều bị ách tắc tại cửa khẩu, gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh cao điểm sản xuất dịp Tết Nguyên đán.
Thứ hai, Nghị định 46 chuyển thẩm quyền kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu từ các cơ quan chuyên ngành Trung ương về cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo phân cấp, trong khi các tỉnh, thành phố chưa được chuẩn bị về tổ chức, nhân lực, quy trình và cơ sở vật chất để tiếp nhận nhiệm vụ mới này.
Ngay sau khi Nghị định có hiệu lực, các cơ quan chuyên ngành tại địa phương như Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường đều ngừng tiếp nhận hồ sơ do chưa có hướng dẫn thực hiện, khiến hàng hóa ùn tắc kéo dài.
Thứ ba, quy trình kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu theo Nghị định 46 được mở rộng từ một bước thành ba bước: cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh quyết định phương thức kiểm tra và lấy mẫu; chuyển mẫu cho cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định; kết quả kiểm nghiệm được gửi về cơ quan cấp tỉnh để cấp giấy xác nhận đạt yêu cầu nhập khẩu.
Thời gian kiểm tra thông thường là 10 ngày làm việc và kiểm tra chặt là 12 ngày làm việc, chưa bao gồm thời gian kiểm nghiệm, dẫn đến tổng thời gian thông quan thực tế có thể kéo dài hàng tháng. Điều này phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn và gây hư hỏng đặc biệt đối với nguyên liệu tươi sống.
Thứ tư, hồ sơ kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu yêu cầu phải có bản tiêu chuẩn sản phẩm và giấy chứng nhận đáp ứng các quy định về an toàn thực phẩm do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp.
Trên thực tế, không phải tất cả quốc gia xuất khẩu đều cấp loại giấy chứng nhận theo mẫu và hình thức tương ứng, đặc biệt đối với các sản phẩm thông thường như đường mía, đường ngô, nước ép cam cô đặc, lá trà đã qua sơ chế. Đối với phụ gia thực phẩm nhập khẩu theo lô lớn, không tồn tại “bản tiêu chuẩn sản phẩm” ở cấp độ thành phẩm như cách hiểu thông thường, mà chỉ có tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc thông số kỹ thuật của nhà sản xuất.
Thứ năm, chưa có hướng dẫn rõ ràng về việc phân định thẩm quyền kiểm tra giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với các mặt hàng trước đây thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế và Bộ Công Thương.
Cơ quan kiểm tra tại địa phương không tiếp nhận hồ sơ và không biết chỉ tiêu chất lượng nào cần chỉ định để kiểm nghiệm, dẫn đến tình trạng hàng hóa không thể thông quan dù doanh nghiệp đã nộp đủ hồ sơ theo quy định.
Đó là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hàng loạt ách tắc nghiêm trọng tại các cửa khẩu và cảng biển ngay từ những ngày đầu thực thi.
Ngoài ra, 2 văn bản này cũng có nhiều vướng mắc về thủ tục công bố và đăng ký sản phẩm; quy định chuyển tiếp và ghi nhãn hàng hóa; quản lý thực phẩm bổ sung và định nghĩa kỹ thuật; đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm bổ sung; yêu cầu truy xuất nguồn gốc thực phẩm; năng lực hệ thống kiểm nghiệm và thiếu ổn định pháp lý và quy trình xây dựng văn bản.
Do đó, về định hướng chính sách dài hạn, VCCI kiến nghị Chính phủ xem xét kéo dài thời gian tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, đồng thời tiếp tục áp dụng Nghị định số 15/2018/NĐ-CP làm cơ sở pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp.
Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 sẽ được thay thế bằng văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm mới, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán và hiệu quả.
Theo VCCI, đây là phương án được đa số doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng đồng thuận cao, phù hợp với thực tiễn và tránh tạo ra bất ổn pháp lý không cần thiết.
Cùng với đó, để xử lý khẩn cấp các vướng mắc nêu trên nếu 2 văn bản vẫn được thực thi, VCCI cũng nêu một loạt kiến nghị để giải quyết tình trạng ách tắc trong kiểm an toàn thực phẩm như vừa qua.