Nghị định 90/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định mức phạt tiền đối với hành vi chậm đóng BHYT.
Theo Nghị định này, phạt tiền đối với người sử dụng lao động không lập danh sách, lập danh sách không đầy đủ số người tham gia BHYT trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định; không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người tham gia BHYT nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng theo quy định của pháp luật theo một trong các mức:
Từ 1-2 triệu đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động; Từ 2-4 triệu đồng, khi vi phạm từ 10-dưới 50 người lao động; Từ 4-7 triệu đồng, khi vi phạm từ 50-dưới 100 người lao động; Từ 7-15 triệu đồng, khi vi phạm từ 100-dưới 500 người lao động…;Từ 25-35 triệu đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng BHYT kể từ sau thời điểm đóng chậm nhất theo khoản 8 Điều 15 Luật BHYT, trừ trường hợp quy định; chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng BHYT nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau:
Từ 500.000-1 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị dưới 5 triệu đồng…;Từ 20-25 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 120-dưới 160 triệu đồng; Từ 25-35 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 160 triệu đồng trở lên.
Bên cạnh đó, tổ chức cá nhân vi phạm còn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc hoàn trả số tiền mà đối tượng tham gia BHYT bị thiệt hại (nếu có). Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; Buộc nộp số lợi bất hợp pháp có được vào tài khoản thu của quỹ BHYT; Buộc đóng đủ số tiền chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ, tương ứng với thời gian chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ theo quy định; Buộc nộp khoản tiền lãi của số tiền chậm đóng theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ, tương ứng với thời gian chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ.
Với hành vi trốn đóng BHYT, theo Điều 82 của Nghị định này, trốn đóng BHYT mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ phạt tiền từ 300.000- 500.000 đồng đối với hành vi không đóng BHYT của đối tượng bắt buộc tham gia BHYT.
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người phải tham gia BHYT sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 17 Luật BHYT, trừ trường hợp không bị coi là trốn đóng BHYT theo một trong các mức sau: Từ 2-4 triệu đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động; Từ 4-7 triệu đồng, khi vi phạm từ 10-dưới 50 người lao động…; Từ 50-70 triệu đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
Với hành vi cho mượn, sử dụng thẻ BHYT sai quy định, Điều 84 của Nghị định này nêu rõ mức phạt tiền như sau: Từ 1-2 triệu đồng đối với trường hợp vi phạm nhưng chưa làm thiệt hại đến quỹ BHYT; Từ 3-5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thẻ BHYT chiếm đoạt tiền BHYT dưới 10 triệu đồng hoặc gây thiệt hại cho quỹ BHYT dưới 20 triệu đồng.