Xét xử vụ mua bán trẻ em xảy ra tại chùa Bồ Đề:

Hai bị cáo loanh quanh, tòa án vẫn đủ căn cứ kết tội

  • 10/09/2015 07:11
  • 0 bình luận
  • Trịnh Tuyến
  • In bài
ANTĐ -  Sau phiên tòa bị hoãn, hôm qua (9-9), TAND quận Long Biên (Hà Nội) đã mở lại phiên xử đối với vụ án mua bán trẻ em xảy ra tại chùa Bồ Đề, thu hút sự chú ý của dư luận xã hội.  

Hai bị cáo loanh quanh, tòa án vẫn đủ căn cứ kết tội ảnh 1

Bị cáo Phạm Thị Nguyệt (bên trái) cùng đồng phạm tại tòa
“Bảo mẫu” cố tình không vào sổ theo dõi

Tại tòa, hai “mẹ mìn” bị VKSND quận Long Biên truy tố về tội “Mua bán trẻ em”, theo khoản 1, Điều 120-BLHS là Phạm Thị Nguyệt (SN 1970), trú ở phường Ninh Sơn, TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình và Nguyễn Thị Thanh Trang (SN 1978), trú phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Bị hại trong vụ  mua bán trẻ em này là cháu Cù Nguyên Công (tức Phạm Gia Bảo, SN 2013) vốn được gửi vào chùa Bồ Đề để nuôi dưỡng. Với tư cách đại diện hợp pháp của bị hại, chị Trần Thị Thu H (SN 1989, ở Cẩm Khê, Phú Thọ) - mẹ đẻ cháu Công cũng tới tham dự phiên tòa. 



Cháu Cù Nguyên Công bị Nguyễn Thị Thanh Trang bán cho Phạm Thị Nguyệt bắt nguồn từ việc năm 2011, chị Trần Thị Thu H chung sống như vợ chồng với anh Vũ Xuân T (SN 1984, quê ở Tuyên Quang) dẫn đến có thai ngoài ý muốn. Và rồi ngày 25-10-2013, chị H đã sinh được một bé trai kháu khỉnh. Sợ gia đình nổi giận, nên chỉ 4 ngày sau khi sinh nở, chị H và anh T liền bế đứa con trai đến chùa Bồ Đề để nương nhờ cửa Phật.



 Cảm thông với cảnh ngộ của chị H và anh T nên ni sư Thích Đàm Lan - Trụ trì chùa Bồ Đề liền bảo Trang (khi ấy là người phụ trách nhà mở - nơi quản lý và nuôi dưỡng các cháu bé ở chùa) đến làm thủ tục tiếp nhận. Ít ngày sau, anh Nguyễn Thành Long (một người thiện nguyện) đến chùa Bồ Đề để thăm nom các cháu nhỏ đã nhận làm cha đỡ đầu và đặt tên cháu bé là Cù Nguyên Công. Mặc dù vậy ngày 1-1-2014, Trang đã “đánh tháo” con trai chị H ra khỏi chùa giao cho Nguyệt để nhận 35 triệu đồng.



Bị thẩm vấn trước tòa, Nguyễn Thị Thanh Trang cho rằng không có chuyện mua bán cháu Công giữa bị cáo và Nguyệt. Về số tiền nhận của đồng phạm, Trang thanh minh đó là tiền mà Nguyệt cho bị cáo và mẹ đẻ cháu Công để bồi dưỡng sức khỏe. Buộc phải khai báo lại hành vi phạm tội, Trang trình bày quen biết Nguyệt vào khoảng tháng 8-2012. Sau đó, 2 người kết thân với nhau. Đầu năm 2013, Nguyệt đặt vấn đề nhờ Trang tìm cho 1 cháu trai khỏe mạnh để làm con nuôi. Thế nên khi chị H và anh T bế cháu Công đến chùa Bồ Đề gửi gắm, Trang lập tức thông tin cho Nguyệt và lên kế hoạch đưa cháu bé ra khỏi chùa. 



Bị thẩm vấn về quy trình tiếp nhận nuôi dưỡng trẻ, Trang thừa nhận khi có người mang trẻ đến gửi, Trang sẽ phải làm thủ tục. Người gửi trẻ phải viết đơn nhờ nhà chùa nuôi dưỡng, photo CMND và phải khai báo rõ mối quan hệ cũng như nguồn gốc cháu bé mang đến gửi gắm. Bước tiếp theo, Trang phải phân loại cháu bé, rồi giao về từng nhóm trẻ tương ứng với độ tuổi và sau cùng phải vào sổ theo dõi trẻ ở chùa, đồng thời tiến hành khai báo tạm trú với cơ quan chức năng.



Đối với trường hợp cháu Cù Nguyên Công, Trang thừa nhận khi tiếp nhận bé đã bị “để ngoài sổ sách” theo dõi ở chùa và cũng không khai báo tạm trú với chính quyền địa phương. Chính vì thế, sau này Trang và Nguyệt đã dễ dàng mua bán cháu Công. Lý giải về sự khuất tất này, bị cáo lấp liếm rằng: “Do thời điểm cháu Công được mang đến chùa, UBND quận Long Biên đã có khuyến cáo nhà chùa không nhận thêm trẻ nữa vì điều kiện nuôi dưỡng không đảm bảo nên bị cáo mới không lưu tên, tuổi cháu vào sổ theo dõi”. Về giấy chứng sinh của cháu Công, theo Trang do chị H sinh con trong nhà nghỉ nên giấy tờ không có trong hồ sơ tiếp nhận trẻ ở chùa Bồ Đề. 



Người mẹ “nhỡ nhàng” xin nhẹ tội cho bị cáo 

Tương tự bị cáo Trang, trả lời thẩm vấn tại tòa, bị cáo Phạm Thị Nguyệt cũng phủ nhận việc mua bán cháu Công với đồng phạm. Theo bị cáo này, chỉ sau khi nhận được con trai chị H thì bị cáo mới đưa 35 triệu đồng cho Trang để chuyển tới mẹ đẻ cháu Công nhằm bồi dưỡng sức khỏe. Giải thích về mục đích, động cơ mua bán cháu Công, Nguyệt khẳng định: “Xin cháu Công về nuôi dưỡng, bị cáo hoàn toàn chỉ xuất phát từ tình yêu thương trẻ. Hơn nữa, bị cáo muốn sau này về già còn có chỗ để nương tựa”.



Tuy nhiên, theo lời khai của chính bị cáo này, thời điểm can án, Nguyệt đã có 2 con ruột ở quê và đang nuôi 2 cháu bé khác (4 tuổi và 2 tuổi) cũng xin từ chùa Bồ Đề. Về điều kiện kinh tế, lúc ấy Nguyệt đang trong tình trạng thất nghiệp và phải sống dựa vào một người đàn ông, trong gian nhà chưa đầy 20m2, tại quận Hoàng Mai.



Về phần mình, chị Trần Thị Thu H khai hoàn toàn không hề hay biết việc 2 bị cáo có hành vi bàn bạc, trao đổi mua bán cháu Công ra sao và chị chỉ biết hết mọi chuyện khi anh Long tìm về tận Phú Thọ hỏi han sự việc. Giải thích về việc phải gửi con vào chùa, chị H phân trần do rất lo sợ gia đình biết chuyện và bản thân chị chưa sẵn sàng để nuôi dạy con. Trước tòa, người mẹ trẻ này tỏ ra ân hận về việc làm của bản thân và khẳng định vì không hiểu biết pháp luật nên mới xử sự như vậy. Về dân sự, mẹ đẻ bị hại không yêu cầu 2 bị cáo  phải bồi thường gì, đồng thời còn đề nghị HĐXX xem xét để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo… 



Tại phần luận tội, đại diện VKSND quận Long Biên cho rằng, dù loanh quanh và không thừa nhận việc mua bán cháu Cù Nguyên Công, song lời khai của các bị cáo cơ bản đều thể hiện rõ hành vi mua bán trẻ em như nội dung bản cáo trạng truy tố. Thực tế, bị cáo Nguyệt không có nhu cầu và điều kiện để nuôi con nuôi thật mà chỉ vì tư lợi của bản thân. Đại diện VKS kết luận, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự do về thân thể cũng như nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ.



Về vai trò phạm tội, theo KSV, bị cáo Nguyệt giữ vai trò khởi xướng và trực tiếp mua bán cháu Công. Còn bị cáo Trang giữ vai trò giúp sức tích cực và cũng trực tiếp mua bán bị hại.


Đồng quan điểm với VKS và khẳng định hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trẻ em”, theo Điều 120-BLHS nên sau 1 ngày xét xử, TAND quận Long Biên đã quyết định tuyên phạt Phạm Thị Nguyệt 48 tháng tù và Nguyễn Thị Thanh Trang 42 tháng tù giam. Đối với số tiền 35 triệu đồng mà “bảo mẫu” từng làm việc tại chùa Bồ Đề hưởng lợi bất chính, tòa án quyết định tịch thu sung công quỹ. 

Tin cùng chuyên mục