Theo cơ quan quốc phòng Đài Loan (TQ), 2 tàu chiến Mỹ đi qua eo biển Đài Loan vào hôm 7-7, điều này dường như sẽ làm căng thẳng thêm mối quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh trong bối cảnh hai nước này đang có cuộc chiến thương mại.
Cuộc chiến tranh thương mại đã chính thức bùng phát từ hôm 6-7 và càng có dấu hiệu căng thẳng hơn khi Mỹ lại tiếp tục cho tàu chiến đi qua eo biển Đài Loan (TQ). Đây không phải lần đầu tiên Washington cho chiến hạm đi qua vùng eo biển này.
Cụ thể, 2 khu trục hạm USS Mustin (DDG-89) và USS Benfold (DDG-65) đã chạy từ phía Nam Đài Loan lên xuyên qua eo biển rồi tiếp tục hành trình về hướng Đông Bắc.
Đây là những khu trục hạm chủ lực của hải quân Mỹ có khả năng phòng không và chống hạm ưu việt, có thể mang tên lửa hành trình tấn công mục tiêu trên đất liền.
Trước đó chiến hạm USS Mustin (DDG-89) cũng đã thực hiện tuần tra ở Biển Đông để phản đối hành vi phi pháp của Trung Quốc khi tuyên bố chủ quyền tại vùng biển quốc tế này.
Thời điểm 3-2018, chiếc USS Mustin (DDG-89) đã đi vào bên trong vùng biển 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc tôn tạo phi pháp ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, khiến Trung Quốc phản ứng dữ dội.
Trung Quốc luôn không bằng lòng với việc Mỹ điều chiến hạm vào biển Đông và eo biển Đài Loan (TQ). Trước đó phản ứng với thông tin: "Mỹ đang xem xét việc cho tàu chiến đi xuyên qua eo biển Đài Loan", bà Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc họp báo và phản ứng về điều này.
"Vấn đề Đài Loan là vấn đề cốt lõi, nhạy cảm nhất và quan trọng nhất trong quan hệ Trung – Mỹ; phía Mỹ cần thiết thực tuân thủ nguyên tắc 'một nước Trung Quốc' và những quy định của 3 bản thông cáo chung Trung – Mỹ, thận trọng xử lý các vấn đề liên quan đến Đài Loan để tránh làm tổn hại đến quan hệ Trung – Mỹ cũng như hòa bình ổn định của vùng biển Đài Loan".
Tuy nhiên các học giả quốc tế thuộc trung tâm nghiên cứu vấn đề quốc tế Mỹ cho rằng: eo biển Đài Loan là vùng biển quốc tế, Mỹ có quyền tự do hàng hải và hàng không giống như hải quân Trung Quốc có thể tự do đến bờ biển phía Tây nước Mỹ.
Những năm gần đây, thông tin về việc tàu chiến Mỹ đi vào eo biển Đài Loan rất ít được chính thức xác nhận.
Việc cho những chiến hạm có khả năng tác chiến trên biển, hộ tống cụm chiến đấu tàu sân bay, hộ tống các biên đội tàu của hải quân và lính thủy đánh bộ là một ẩn ý của phía Mỹ khi không đồng tình với những vùng mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.
Chiến hạm Arleigh Burke là lớp tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường mạnh nhất và đông đảo nhất thế giới hiện nay. Đây là những chiến hạm làm nền tảng cho sức mạnh của hải quân Mỹ trên đại dương.
Hiện tại đòn tấn công từ tên lửa hành trình Tomahawk đang trở thành "thương hiệu" sức mạnh quân sự của Mỹ trong việc tấn công phủ đầu. Những tên lửa này thường được tấn công từ tàu khu trục này.
Arleigh Burke cũng là lớp tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường (DDG) đầu tiên của Mỹ được chế tạo trên nền tảng hệ thống chiến đấu Aegis. Đây là một trong những tổ hợp tác chiến hiện đại và phức tạp nhất thế giới, biến khu trục hạm lớp Arleigh Burke thành một phần quan trọng trong hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo do Mỹ phát triển
Tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường này có độ giãn nước từ 8.300 cho đến 10.000 tấn tùy từng phiên bản khác nhau.
Hải quân Mỹ lên kế hoạch đóng mới tổng cộng 76 tàu khu trục lớp Arleigh Burke. Từ năm 1988 đến nay, đã có 67 chiếc được hoàn thành, 66 tàu trong số đó được biên chế cho các đơn vị của hải quân Mỹ.
Lớp Arleigh Burke nằm trong số các khu trục hạm lớn nhất từng được Mỹ chế tạo, cho tới khi siêu tàu khu trục tàng hình lớp Zumwalt ra đời. Chúng được thiết kế để trở thành chiến hạm đa năng, đáp ứng vai trò tác chiến phòng không (AAW), chống ngầm (ASW) và chống tàu mặt nước (ASuW).
Việc trang bị cụm radar mảng pha quét điện tử AN/SPY-1, tên lửa đánh chặn SM-2/3 và hệ thống phòng thủ Aegis biến tàu khu trục lớp Arleigh Burke thành tổ hợp chống tên lửa đạn đạo và diệt vệ tinh hiệu quả nhất trong biên chế hải quân Mỹ.
Lớp Arleigh Burke được chia thành nhiều phiên bản (Flight). 21 tàu đầu tiên từ DDG-51 tới DDG-71 được xếp vào Flight I, 7 chiếc tiếp theo (DDG-72 tới DDG-78) thuộc Flight II.
Bản nâng cấp IIA được chế tạo từ cuối năm 1997, bao gồm 43 chiếc đã được biên chế (DDG-79 tới DDG-112) và 11 tàu đang trong quá trình đóng mới và hoàn thiện (DDG-113 đến DDG-123).
Flight III gồm ba tàu (DDG-124 đến DDG-126) vừa được hải quân Mỹ đặt mua, nhưng chưa bắt đầu quá trình đóng mới.
Lượng giãn nước toàn tải của Flight I là 8.315 tấn, Flight II là 8.400 tấn, Flight IIA tăng tới 9.200 tấn và Flight III là ~10.000 tấn. Flight I và II có chung chiều dài 154 m, trong khi Flight IIA kéo dài lên mức 155 m. Chiều rộng tất cả các tàu đều là 20 m.
Để cận chiến, lớp Arleigh Burke được trang bị một hải pháo Mark 45 cỡ nòng 127 mm phía mũi với tầm bắn 21 km và cơ số đạn 600 viên.
Mỗi tàu được trang bị 90-96 ống phóng thẳng đứng (VLS) chia làm hai cụm trước và sau thượng tầng, có khả năng sử dụng tên lửa hành trình BGM-109 Tomahawk, tên lửa phòng không RIM-156 SM-2 và RIM-161 SM-3, cùng tên lửa chống ngầm RUM-139 VL-ASROC.
Các tàu còn được trang bị vũ khí hạng nhẹ để đối phó các mối đe dọa nhỏ, như hệ thống phòng thủ tầm cực gần Phalanx 20 mm và pháo tự động M242 Bushmaster 25 mm.
Chỉ có 28 tàu lớp Arleigh Burke được trang bị tên lửa chống hạm Harpoon, 34 chiếc còn lại đã loại bỏ hoàn toàn loại vũ khí này.
Những chiếc mang tên lửa Harpoon cũng dần chuyển sang vai trò phòng thủ tên lửa đạn đạo với sự xuất hiện của tên lửa SM-3 Block 1B.
Khả năng chở trực thăng không xuất hiện ở Flight I và II. Phải tới Flight IIA, các tàu thuộc lớp này mới có thể mang theo hai trực thăng MH-60R Seahawk.
Cung cấp lực đẩy cho tàu là 4 động cơ turbine khí General Electric LM2500 với tổng công suất 105.000 mã lực, giúp tàu đạt tốc độ tối đa 56 km/h. Tầm hoạt động của lớp Arleigh Burke đạt mức 8.100 km ở tốc độ hành trình 37 km/h.
Bộ não của tàu là radar AN/SPY-1D. Đây là hệ thống radar mảng pha quét điện tử thụ động (PESA) dành cho hải quân được Lockheed Martin chế tạo.
Đây cũng là thành phần chủ chốt của hệ thống chiến đấu Aegis, được máy tính điều khiển và sử dụng 4 đài thu phát radar cố định nhằm cung cấp khả năng trinh sát, theo dõi mục tiêu liên tục trong phạm vi 360 độ quanh tàu.
AN/SPY-1D có tầm hoạt động tối đa 320 km với mục tiêu trên không và 83 km với tên lửa bay bám biển. Mỗi đài radar có thể theo dõi 200 mục tiêu cùng lúc, cho phép mỗi tàu Arleigh Burke quản lý tới 800 mục tiêu. Cận cảnh radar AN/SPY-1D đang được lắp đặt trên lên tàu.
Ưu điểm lớn nhất của AN/SPY-1D là đường truyền dữ liệu tới tên lửa được tích hợp thẳng vào radar, thay vì phải dùng bộ phát riêng như các biến thể trước đó.
Hiện Mỹ đang sản xuất thử nghiệm radar AN/SPY-6(V), một phần trong chương trình phòng không và chống tên lửa (AMDR). Ba bộ radar AMDR sẽ được chế tạo và lắp đặt trên các tàu Arleigh Burke Flight III.
Sử dụng công nghệ vật liệu gallium-nitride, AN/SPY-6(V) mạnh gấp nhiều lần hệ thống radar AN/SPY-1D.
Raytheon tuyên bố radar này có khả năng phát hiện mục tiêu nhỏ hơn một nửa và ở khoảng cách gấp đôi so với mẫu AN/SPY-1D(V) mới nhất trong biên chế hải quân Mỹ.
Hiện Mỹ cũng đang nghiên cứu để tiến hành lắp đặt tên lửa đánh chặn SM-3 cho tàu khu trục này.
Đây là tên lửa đánh chặn ngoài khí quyển có nhiệm vụ tiêu diệt tên lửa đạn đạo đối phương trong pha giữa, khi mục tiêu bay hành trình trong không gian.
Phiên bản SM-3 Block IIA mới nhất có tầm bắn tới 2.500 km, đạt tốc độ tới 16.200 km/h.
Mỗi quả đạn được trang bị hệ thống dẫn đường quán tính (INS), định vị toàn cầu (GPS), radar bán chủ động (SARH) và hồng ngoại bước sóng dài.
Tên lửa không được trang bị đầu đạn nổ mảnh thông thường. Thay vào đó, quả đạn SM-3 lao thẳng vào mục tiêu, phá hủy tên lửa đối phương bằng động năng cực lớn.
Phương pháp này bảo đảm không kích nổ đầu đạn hạt nhân mục tiêu, hạn chế thiệt hại cho khu vực bên dưới. Bù lại, hệ thống dẫn đường đòi hỏi độ chính xác rất cao.
Với những công nghệ và vũ khí như vậy, tàu khu trục lớp Arleigh Burke được coi là lớp tàu cực hiệu quả và tạo ra sự đe dọa lớn đối với hải quân Trung Quốc và Nga.
Đặc biệt mỗi lần chiến hạm này đi vào bất cứ khu vực nhạy cảm nào mà Bắc Kinh đang đơn phương tuyên bố chủ quyền thì đều được theo dõi đặc biệt.
Dù Bắc Kinh liên tục phản đối sự hiện diện của các chiến hạm này, nhưng Mỹ cho biết tàu chiến của họ tuần tra là để đảm bảo tự do thông thương trên vùng biển được coi là quốc tế này.
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45

[ẢNH] Tại sao Trung Quốc lo lắng trước loại chiến hạm vừa vượt qua eo biển Đài Loan?

  • 10/07/2018 11:47
  • 0 bình luận
  • Việt Hùng
ANTD.VN - Theo trang tin điện tử "Người quan sát" (Trung Quốc), Bộ Quốc phòng Đài Loan đã lên tiếng chính thức xác nhận thông tin 2 tàu khu trục tên lửa lớp Arleigh Burke của Mỹ trưa cùng ngày đã đi qua eo biển Đài Loan hôm 7-7. Động thái này không khỏi gây ra lo ngại cho Bắc Kinh.

VIDEO

TIN ẢNH

INFOGRAPHIC