Trên các tàu sân bay ngoài phi đoàn tiêm kích thì một loại vũ khí không thể thiếu đó chính là máy bay chỉ huy cảnh báo sớm E-2C. Đây được coi là "mắt thần trên không" của hải quân Mỹ.
Hình ảnh máy bay cảnh báo sớm E-2C của hải quân Mỹ.
Khoang điều khiển máy bay với chi chít các thiết bị đồng hồ đo đạc các thông số.
Khoang dành cho các thiết bị điện tử dùng để đo đạc và thu thập thông tin từ đối phương.
Tàu sân bay USS Carl Vinson cùng hai chiến hạm hộ tống sáng 5-3 đến Đà Nẵng, bắt đầu chuyến thăm hữu nghị Việt Nam đến ngày 9-3. Trong dàn phi cơ trên boong tàu có sự xuất hiện của ít nhất hai máy bay E-2C Hawkeye, được ví như "mắt thần" của cả nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ
Tàu Carl Vinson được biên chế 4-6 chiếc E-2C thuộc Phi đoàn cảnh báo sớm trên hạm số 113, đơn vị mang biệt danh Black Eagles (Đại bàng đen).
Đây là phiên bản đang được sử dụng rộng rãi trong hải quân Mỹ và sẽ được thay thế bởi mẫu E-2D Advanced Hawkeye trong thời gian tới.
Northrop Grumman E-2 Hawkeye là dòng máy bay cảnh báo sớm (AEW) có khả năng hoạt động trên tàu sân bay và trong mọi điều kiện thời tiết.
Nguyên mẫu E-2 được Grumman phát triển từ cuối thập niên 1950 cho hải quân Mỹ, nhằm thay thế dòng E-1 Tracer đã trở nên lạc hậu vào thời điểm đó.
E-2 là mẫu máy bay đầu tiên được chế tạo riêng cho nhiệm vụ cảnh báo sớm, thay vì hoán cải khung thân phi cơ có sẵn như dòng E-3 Sentry cho không quân Mỹ.
Khoang điều khiển radar của máy bay E-2C.
Biến thể E-2C của tàu Carl Vinson được đưa vào biên chế từ năm 1973, mỗi chiếc có giá khoảng 176-180 triệu USD. y.
Máy bay E-2C dài 17,6 m, sải cánh 24,6 m và cao 5,6 m, phần cánh có thể gấp gọn để tiết kiệm diện tích, phù hợp với không gian chật hẹp trên tàu sân bay
Máy bay chỉ huy cảnh báo sớm E-2C đang gập cánh sau khi đáp xuống tàu sân bay.
Các cánh lớn có thể gấp cụp lại sát thân để tiết kiệm diện tích.
Máy bay có khối lượng rỗng 18 tấn và khối lượng cất cánh tối đa khoảng 26 tấn.
E-2 đạt tốc độ hành trình 475 km/h, tầm bay tối đa 2.700 km.
Máy bay có thể hoạt động liên tục 6 tiếng trên không.
Nhiệm vụ chính của E-2 là nhận dạng, cảnh báo các mối nguy hiểm trên không cho nhóm tác chiến tàu sân bay, sau đó dẫn đường cho các tiêm kích trên hạm như F/A-18 Hornet hay F/A-18 Super Hornet thực hiện nhiệm vụ đánh chặn.
Những chiếc E-2D nâng cấp từ E-2C còn có khả năng dẫn đường và truyền tín hiệu cho máy bay tàng hình F-35B và F-35C chuyên hoạt động trên tàu sân bay.
Được biết các loại máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 thường sử dụng thuật tín hiệu riêng biệt để tránh bị đối phương phát hiện.
Các máy bay E-2 cũng có thể chỉ huy và kiểm soát hoạt động không chiến, do thám, dẫn đường cho lực lượng tìm kiếm cứu nạn và chuyển tiếp thông tin liên lạc.
Độ cao hành trình 7.600 m cho phép mỗi chiếc Hawkeye bao phủ khu vực có bán kính khoảng 300 km, cũng như phát hiện mục tiêu bay sát mặt biển ở ngoài đường chân trời như tiêm kích và tên lửa chống hạm đối phương, vốn ngoài khả năng phát hiện của radar trên tàu chiến trong biên đội.
Tổ lái Hawkeye có 5 người, gồm hai phi công ngồi trong khoang lái phía trước, sĩ quan kiểm soát thông tin tác chiến, chuyên viên điều khiển không lưu và sĩ quan vận hành radar ở khoang sau.
Khung thân làm bằng kim loại nhẹ và được gia cố để phù hợp với hoạt động trên tàu sân bay, trong khi một phần cánh đuôi chế tạo từ vật liệu composite nhằm giảm tín hiệu phản xạ radar.
Càng trước máy bay có thanh kéo để nối với máy phóng của tàu sân bay, còn phía sau lắp móc hãm hình chữ A và đệm đuôi phòng trường hợp va chạm với sàn đáp của hàng không mẫu hạm.
Hai sĩ quan kỹ thuật đang làm việc với các thiết bị phát nhận tín hiệu radar trên khoang chiếc E-2C.
Điểm nổi bật nhất của dòng Hawkeye là đài radar tròn có đường kính 7,3 m phía trên thân, bên trong là tổ hợp radar cảnh giới AN/APS-145 và hệ thống nhận diện địch - ta (IFF) OL-483/AP.
Mỗi hệ thống AN/APS-145 có khả năng phát hiện 2.000 mục tiêu và bám bắt 40 mục tiêu cùng lúc ở khoảng cách trên 300 km.
Hải quân Mỹ cho biết radar này cũng có khả năng kháng nhiễu địa vật và các biện pháp tác chiến điện tử của đối phương.
Cận cảnh khoang lái của chiếc E-2C.
Ngoài hệ thống radar, những chiếc E-2 cũng được trang bị nhiều tổ hợp thông tin vô tuyến và đường truyền dữ liệu, nhằm đơn giản hóa quá trình vận hành, cũng như kết nối và truyền tham số mục tiêu cho các tiêm kích và phi cơ tác chiến điện tử trong không đoàn tàu sân bay.
Các biến thể Hawkeye liên tục được chế tạo từ năm 1960, biến nó trở thành dòng phi cơ trên hạm có dây chuyền sản xuất kéo dài nhất lịch sử Mỹ.
Grumman tới nay đã sản xuất hơn 210 chiếc E-2 cho hải quân Mỹ và các đồng minh như Ai Cập, Pháp, Israel, Nhật Bản, Mexico, Singapore...
Phiên bản cải tiến Block II xuất hiện năm 1992 với nhiều thay đổi ở động cơ và radar, trong khi bản E-2D mới sản xuất hàng loạt từ năm 2013 để thay thế dần E-2C trong tương lai, nhằm duy trì những "con mắt thần" cho nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ trong quá trình hoạt động.
Cho tới thời điểm hiện tại máy bay cảnh báo E-2C vẫn là một vũ khí cực nguy hiểm của Mỹ, nó vừa là loại vũ khí vừa khiến Nga và Trung Quốc thán phục lẫn e sợ.
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36

[ẢNH] Tại sao Nga và Trung Quốc vừa thán phục vừa lo sợ trước "Mắt thần" E-2C trên tàu USS Carl Vinson

  • 10/03/2018 08:38
  • 0 bình luận
  • Việt Hùng
ANTD.VN - E-2C “mắt diều hâu” là loại máy bay cảnh báo sớm chủ lực của Mỹ với nhiều tính năng vượt trội mà những sản phẩm của Nga và Trung Quốc không có được.

VIDEO

TIN ẢNH

INFOGRAPHIC