Ngân hàng thứ năm hoàn thành cả 3 trụ cột của Basel II

  • 03/07/2020 16:41
  • 0 bình luận
  • P.V
ANTD.VN - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) vừa công bố hoàn thành trụ cột 2 của Basel II - Quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ vốn (ICAAP-Internal Capital Adequacy Assessment Process).

Trước đó, vào tháng 10/2019, SeABank đã được Thống đốc NHNN phê duyệt áp dụng trước thời hạn Thông tư 41/2016/TT-NHNN - trụ cột 1 và 3 của Basel II. Cùng với việc hoàn thành triển khai ICAAP đáp ứng các yêu cầu của NHNN tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN, SeABank là ngân hàng thứ 5 tại Việt Nam hoàn thành cả 3 trụ cột Basel II, sau VIB, TPBank, VPBank và MSB.

Theo lãnh đạo SeABank, Ngân hàng đang tiếp tục từng bước thực hiện mục tiêu tiếp cận với những thông lệ quốc tế toàn diện hơn, bao gồm Basel II IRB, IFRS 9 và Basel III. Hiện SeABank đã bước đầu đạt được những kết quả triển khai cho giai đoạn tiếp theo.

SeABank là ngân hàng thứ năm hoàn thành cả 3 trụ cột của Basel II

SeABank là ngân hàng thứ năm hoàn thành cả 3 trụ cột của Basel II

Bà Lê Thu Thủy - Tổng Giám đốc SeABank cho biết, việc hoàn thành triển khai cả 3 trụ cột Basel II trước thời hạn cũng như được Moody’s giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm B1 cho năm 2020 chính là điểm tựa cho phép SeABank tiếp tục đi trước trên thị trường trong việc đáp ứng với những tiêu chuẩn quốc tế cao nhất, giúp SeABank quản trị và điều hành hoạt động kinh doanh một cách chủ động, minh bạch, an toàn và bền vững.

ICAAP là quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ vốn giúp các ngân hàng có thể tự đánh giá mức đủ vốn không chỉ trong điều kiện kinh doanh thông thường mà còn trong tình trạng có những biến động bất lợi của thị trường, bao gồm các cấu phần về đánh giá các rủi ro trọng yếu, xây dựng khẩu vị rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng, lập kế hoạch vốn, đánh giá, báo cáo và giám sát mức đủ vốn.

Triển khai thực hiện ICAAP góp phần quan trọng trong việc nâng cao công tác quản trị rủi ro trong Ngân hàng như: Tăng cường nhận thức về quản trị rủi ro trong toàn bộ cán bộ, nhân viên và các cấp lãnh đạo ngân hàng; bảo đảm mức độ phù hợp giữa chiến lược rủi ro và kế hoạch kinh doanh;

Đo lường hiệu quả hơn mức độ nhạy cảm về rủi ro của ngân hàng đối với điều kiện kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ giá, lạm phát, GDP, biến động giá bất động sản; tận dụng nguồn vốn một cách hiệu quả thông qua việc phân bổ vốn cho từng rủi ro trọng yếu và đơn vị kinh doanh, đồng thời lồng ghép trong quá trình đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Tin cùng chuyên mục