Năm tháng không quên
(ANTĐ) - Hướng tới kỷ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, 65 năm ngày truyền thống Công an nhân dân và các ngày lễ lớn khác của đất nước, CATP Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học lịch sử với chủ đề: “Công an Thủ đô trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”. Phát biểu tại Hội thảo, Đại tá Nguyễn Đình Thành - nguyên Giám đốc CATP Hà Nội - một trong những cán bộ ưu tú được Bộ Công an lựa chọn cử chi viện cho chiến trường B những năm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh, bồi hồi kể lại…
| Trước cửa hầm tránh pháo ở Căn cứ Trung ương Cục miền Nam tháng 2-1972 (đồng chí Đình Thành ngồi bên trái) |
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Công an Hà Nội (CAHN) đảm nhiệm 2 nhiệm vụ chiến lược: một là giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Thủ đô, góp phần bảo vệ vững chắc hậu phương lớn miền Bắc; hai là chi viện cho chiến trường miền Nam - sát cánh cùng cán bộ chiến sĩ An ninh miền Nam chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đối với nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam: CAHN đã tham gia chi viện cho chiến trường B gồm 4 đợt vào các năm: 1962, 1965, 1967 và đợt tổng tấn công 1975 với tổng số 815 cán bộ chiến sĩ (trong số này, gần một trăm đồng chí đã mãi mãi nằm lại chiến trường). Tôi là người vinh dự được chọn đi vào đợt thứ 3, tức là năm 1967, thuộc đoàn N63 (chi viện cho Trung ương cục, Ban An ninh miền (gọi tắt là R). Đoàn chúng tôi có 36 người (CAHN có 4 đồng chí). Các thành viên đều là cán bộ cấp chỉ huy ở các đơn vị.
Trước hôm lên đường, đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đến thăm và dặn dò anh em chúng tôi. Đồng chí nói đại ý: Lãnh đạo Bộ xác định các đồng chí là đảng viên, cán bộ công an ưu tú mới được lựa chọn để chi viện cho chiến trường miền Nam. Các đồng chí ra đi đợt này là được vinh dự tham gia một giai đoạn quyết liệt của cuộc cách mạng giải phóng miền Nam. Các đồng chí sẽ là những cán bộ “nái” của An ninh miền Nam trong giai đoạn mới, tức là hạt giống để từ đó nhân đội ngũ cán bộ của mình lên… Những lời chỉ bảo ân cần của Bộ trưởng đã được chúng tôi ghi nhớ và thực hiện.
Với quyết tâm chiến lược của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” “vì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, CAHN đã chọn những cán bộ ưu tú, có chất lượng, “vừa hồng vừa chuyên” để chi viện cho chiến trường B. Đó là những người thể hiện được tinh thần tự giác, sẵn sàng nhận nhiệm vụ đi chiến trường, còn tư tưởng phân vân, chưa sẵn sàng thì ở lại.
Mặc dù xác định ra đi là gian khổ, hy sinh nhưng tinh thần dũng cảm, ý chí chiến đấu của cán bộ CAHN rất cao. Số tình nguyện xin đi bao giờ cũng vượt chỉ tiêu 20-30%. Hầu hết cán bộ đi B đều có bản lĩnh chính trị vững vàng và có quyết tâm cao. Bản lĩnh đó là vô cùng quan trọng vì cuộc chiến đấu quá ác liệt, khoảng cách giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau từng giờ, từng phút: vừa ngồi ăn uống với nhau, ra ngõ đã gặp địch phục kích. Chúng ta vẫn thường nói vui với nhau: dân tộc ta ra ngõ gặp anh hùng. Trong miền Nam thời kỳ đó thì có thể nói ra ngõ là gặp kẻ địch.
Cho nên, nhiều cán bộ ta đã từng có kinh nghiệm sống trong vùng địch hậu giai đoạn chống Pháp, thời kỳ đen tối nhất, giặc ở trên mặt đất, mình ở dưới hầm, nhưng so với những gian khổ và hiểm nguy của cuộc chiến đấu ở miền Nam thì vẫn là một trời một vực. Có đồng chí là cán bộ cao cấp của Bộ ta, một con người đầy bản lĩnh, giàu kinh nghiệm trong đánh Pháp, nhưng cũng bị sa vào tay giặc. Hầu hết các đồng chí bị địch bắt đều kiên trung bất khuất trước mọi cực hình, thủ đoạn gian ác của địch.
Mỹ không chỉ có tiềm lực về kinh tế và quân sự đơn thuần, mà còn dùng những thủ đoạn, dùng tiền kết hợp với tâm lý chiến để diễn biến tư tưởng, vô cùng tinh vi và thâm độc. Đánh giá như thế thì mới thấy hết được những khó khăn gian khổ mà cán bộ chi viện phải đối mặt. Nhất là những anh em chưa từng hoạt động trong vùng địch hậu, sự hiểu biết về chiến trường và tình hình còn hạn chế thì lại càng khó khăn hơn nhiều.
Nói đến những gian khổ mà người cán bộ chi viện phải đối mặt, trước hết phải nói về 5 tháng vượt Trường Sơn. Trường Sơn ngày nắng, đêm mưa. Vượt Trường Sơn, hành quân trên đường rừng Trường Sơn, nói như nhà thơ Tố Hữu: “mới thực là biết mình”, mới biết thế nào là “lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Trường Sơn là nơi để chứng tỏ vàng thau. Có người đã nói: “Vượt được Trường Sơn thì có lẽ mỗi người đã xứng đáng được thưởng huy chương rồi”.
Gian khổ cực kỳ, gặp rắn độc có thể chết, lội suối bị ngã, có thể chết, chưa kể đến việc gặp địch, rồi bom đạn đêm ngày… Nhiều người đã mãi mãi nằm lại rừng Trường Sơn mà không được vào chiến trường. Có người không chịu được gian khổ đã “B quay”… Đoàn chúng tôi lội Trường Sơn ròng rã 5 tháng liền mới đến được R, 3 đồng chí đã hy sinh, 16 đồng chí bị bệnh phải nằm lại dọc đường. Nói như vậy để các đồng chí hình dung phần nào được sự gian khổ ấy.
Tuy còn bỡ ngỡ nhưng anh em luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ, tham gia vào lực lượng chiến đấu. Chiến trường miền Nam đang đòi hỏi lực lượng chi viện phải phát huy tác dụng nhanh chóng để phục vụ cho cuộc chiến đấu đầy gian khổ, ác liệt đó. Vào chiến trường không phải là để nghiên cứu tình hình mà là để làm việc, để hoạt động. Vì vậy đòi hỏi hàng đầu lúc này là phải hòa nhập nhanh thì mới phát huy tác dụng hiệu quả ngày một cao của cán bộ chi viện. Bản thân tôi cũng thế. Trong đoàn tôi là cán bộ bảo vệ chính trị. Bảo vệ chính trị trong ấy lúc bấy giờ chính là lực lượng chiến đấu. Điệp báo và bảo vệ chính trị là 2 lực lượng chiến đấu trực tiếp.
Vào đến chiến trường, sau khi tiếp nhận công việc, tôi đề nghị được đi thâm nhập thực tế ngay. Các đồng chí ở trong đó rất phân vân vì thâm nhập chiến trường lạ, lại vô cùng nguy hiểm và khắc nghiệt là một việc phải cân nhắc thận trọng. Nhưng nếu chỉ ngồi nhà nghiên cứu lý thuyết, đọc tài liệu hết ngày này sang ngày khác thì không thể trưởng thành được. Tôi muốn trực tiếp tìm hiểu về kẻ thù để từ đó hòa nhập thực sự vào công việc. Tôi trình bày nguyện vọng được đi cùng một đồng chí đã thành thạo ở địa phương để có thể học hỏi thêm.
Cuối cùng, các đồng chí đã nhất trí và tạo điều kiện cho tôi được tiếp xúc với dân, với chiến trường. Tôi được phân công xuống Mỹ Tho 6 tháng, ở hai chiến trường ác liệt nhất là Cai Lậy và Cái Bè. Đây là hai huyện thường xuyên bị địch chà xát, các chi khu, đồn bốt dày đặc. Công việc đầu tiên khi xuống cơ sở là đào hầm. Mấy ngày đầu chưa khoét kịp hầm đã gặp phải mấy trận càn, tôi phải tìm chỗ ẩn nấp. Thế rồi, một tháng, hai tháng quen dần, đêm đến thì đi kiếm cơm ăn, gặp gỡ cơ sở, tìm hiểu tình hình… 5-6 giờ sáng lại phải tìm cách đối phó với những trận càn quét của địch.
Trong suốt thời gian đó, không có ngày nào không có địch chà xát trên đầu. Được nhân dân hết lòng đùm bọc, che chở, giúp đỡ và có cả yếu tố may mắn nữa mà có đến gần chục lần, tôi thoát hiểm trong gang tấc. Cơ sở rất tốt, bà con cưu mang, đùm bọc, thường gọi tôi là “thằng Ba Bắc kỳ” hoặc “thằng Ba Huế”.
(Còn nữa)
Đại tá Nguyễn Đình Thành (Nguyên Giám đốc CATP Hà Nội, Nguyên cán bộ chi viện chiến trường B)