Quá trình xét xử cho thấy, tháng 6-2019, Trần Thị Thơm mua căn hộ số 2, tầng 25, diện tích hơn 100m², thuộc Dự án Nhà ở cao tầng kết hợp dịch vụ thương mại Sunshine City (phường Phú Thượng) với giá hơn 5,3 tỷ đồng.
Tuy nhiên, ngay trong tháng 6-2019, bị cáo đã mang chính căn hộ này thế chấp tại ngân hàng VPBank để vay hơn 3,6 tỷ đồng để có tiền thanh toán cho chủ đầu tư. Sau đó, tháng 6-2020, chủ đầu tư mới bàn giao căn hộ cho bị cáo Thơm.
Cùng thời điểm, bị cáo còn nợ vợ chồng ông Lê Duy C. (SN 1983, trú tại phường Cầu Giấy, Hà Nội) và bà Vũ Thị H. (SN 1984) số tiền 720 triệu đồng. Ngày 27-8-2020, Thơm thỏa thuận chuyển nhượng lại căn hộ trên cho vợ chồng ông C. với giá 1,5 tỷ đồng.
Theo thỏa thuận, vợ chồng ông C. có trách nhiệm thanh toán khoản nợ ngân hàng VPBank thay bị cáo… Thực hiện thỏa thuận, vợ chồng ông C. đã thanh toán cho Thơm 800 triệu đồng. Số tiền 700 triệu đồng còn lại, Thơm và vợ chồng ông C. khấu trừ khoản nợ cũ. Ngày 6-9-2020, Thơm bàn giao căn hộ trên cho vợ chồng ông C.
Sau đó, dù đã bán căn hộ nêu trên cho vợ chồng ông C., nhưng ngày 9-9-2020, Thơm lại tiếp tục thỏa thuận bán chính căn hộ thuộc Dự án Nhà ở cao tầng kết hợp dịch vụ thương mại Sunshine City cho vợ chồng ông Nguyễn Anh Đ. (SN 1974), ở phường Khương Đình, Hà Nội.
Khi đó, Thơm nói với vợ chồng ông Đ. Là bị cáo đã ký hợp đồng mua bán căn hộ với chủ đầu tư và trả trước 30% giá trị căn hộ (tương đương 1,5 tỷ đồng) và đang thế chấp căn hộ tại ngân hàng để vay hơn 3,6 tỷ đồng trả tiền mua nhà cho chủ đầu tư.
Theo lời bị cáo, do cần tiền mặt nên Thơm muốn bán căn hộ với giá 1,5 tỷ đồng. Sau khi đồng ý mua căn hộ trên, vợ chồng ông Đ. và bị cáo đến Văn phòng thừa phát lại lập vi bằng thể hiện việc vợ chồng ông Đ. đặt cọc 1,5 tỷ đồng để mua căn hộ trên vào ngày 9-9-2020.
Tiếp đó, vợ chồng ông Đ. chuyển khoản và đưa tiền mặt tổng cộng 1,5 tỷ đồng cho bị cáo. Toàn bộ số tiền nhận được, Thơm chi tiêu cá nhân hết.
Đến ngày 21-9-2020, vợ chồng ông C. đến căn hộ trên thì gặp vợ chồng ông Đ. Qua trao đổi, hai bên mới “ngã ngửa” chuyện một căn hộ được Thơm bán cho hai người. Do không liên lạc được với Thơm nên những người mua nhà tố giác hành vi lừa đảo của bị cáo.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Thơm thừa nhận việc giao dịch mua bán căn hộ với cả vợ chồng ông C. và vợ chồng ông Đ. Bị cáo khai do làm ăn thua lỗ nên đã phải bán căn hộ trên nhưng không báo lại cho ngân hàng biết.
Vợ chồng ông C., ông Đ. không yêu cầu Thơm trả lại số tiền bị chiếm đoạt và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Cơ quan tố tụng xác định, hồ sơ vụ án không có căn cứ cho thấy chồng bị cáo Trần Thị Thơm bàn bạc với vợ để chiếm đoạt tiền của bị hại. Do vậy, cơ quan tố tụng không đề cập xử lý chồng bị cáo… Trước đó, bị cáo này từng phải nhận án 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.