Lá lằng - ngọt ngào dư vị quê hương

ANTD.VN - Xuân qua, hạ đến! Những chiếc thuyền đánh cá cập bờ chất đầy cả mùa cá trích trên khoang. Cá trích kết hợp với lá lằng là món ăn quen thuộc của người quê tôi. Khi nhai lá lằng, ban đầu ta cảm nhận có vị đắng nhẹ nơi đầu lưỡi, nhưng càng nhai kỹ càng cảm thấy vị ngọt bùi của lá. Đó là sự hồi đáp thử thách lòng người của một loài cây dân dã, hay là một thông điệp truyền đi triết lý cuộc đời?!

Món ăn một thời gian khó

Quê hương đem cho ta nhiều sự ngọt ngào, đó là vị ngọt của bầu sữa mẹ đã nuôi chúng ta khôn lớn; vị ngọt của tình thân họ tộc làm cho chúng ta thêm gắn kết tình cảm gia đình, làng xóm; vị ngọt của những kỷ niệm đầu đời đầy mơ mộng và hoài niệm... Để khi chúng ta đi xa mà nhớ về càng thêm nhung nhớ, yêu thương. Đúng như lời thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết: “Quê hương là chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày”... Thế nhưng, cuộc sống này đâu phải toàn những viên kẹo, vả lại nếu chỉ biết có vị ngọt thôi thì vị giác rất dễ trở nên trung hòa và kết cục sẽ bị dòng đời “ru ngủ”, bởi như các cụ vẫn nói: “Mật ngọt chết ruồi”... Song, nếu chúng ta nếm trải “vị đắng” trước, “vị ngọt” sau, ta sẽ cảm nhận “vị ngọt” càng ngọt ngào hơn, cho dù cái “vị ngọt” đó không đến từ đường, từ mật. Một vị ngọt phảng phất, thanh thanh, nhè nhẹ sẽ làm cho ta không ngấy chán - cái triết lý ấy rất phù hợp với những người đàn ông từng trải, trong đó có cha tôi.

anh-2-3887.jpg
Lá lằng tươi

Cha tôi sinh ra trên mảnh đất miền Trung khắc nghiệt. Nơi mà thiên tai năm nào cũng hoành hành, nơi mà đất đai không màu mỡ như những vùng quê khác, cho nên cái ăn, cái đói cứ bám đuổi. Đó chính là vị đắng của đói nghèo, khổ cực, để cha tôi phải dứt áo, rời làng tìm đến vùng đất mới mưu sinh. Cha tôi nói, người miền Trung đã quen với khó khăn. Chính sự nhọc nhằn đã rèn giũa nghị lực, tạo lên bản lĩnh để con người có ý chí hơn, trưởng thành trong thách thức, vượt qua khó khăn cuộc sống. Cũng vì đã quá quen với “vị đắng” của mưu sinh, nhọc nhằn, lam lũ mà cái đắng đã thấm vào ẩm thực của người dân xứ Nghệ. Đó là vị đắng của cây lằng, một loài cây mọc hoang ở vùng núi, bên những triền dốc, con suối của một số huyện thuộc tỉnh Nghệ An, trong đó có xứ Quỳnh quê tôi.

Lần đầu tiên tôi nếm bát canh lá lằng lại không phải ở quê hương của chính loài cây này mà trong căn nhà của gia đình tôi tại Hà Nội. Biết cha tôi thích canh nấu lá lằng, những người bà con trong quê đã vào rừng hái về thái nhỏ, phơi khô, bọc gói cẩn thận rồi gửi xe khách ra cho cha tôi dùng dần. Bát canh lá lằng khô được cha tôi chế biến rất đơn giản: Tép đồng tươi (hoặc tép khô phi hành mỡ), không có cà chua bi (loại mà quê tôi còn gọi là “cà kiu”) thì sốt với cà chua thông thường. Sau khi cà chua sốt nhuyễn thì đổ nước, đun sôi, thả lá lằng vào là có thể bắc ra ngay để thưởng thức.

anh-1.jpg
Canh nấu với lá lằng

Tôi nếm thử chút canh lá lằng và thú thật không thể nuốt nổi. Vì đắng! Ngày đó tôi còn nhỏ, chưa quan tâm đến cảm xúc của người khác. Tôi mặc kệ những lời quảng cáo của cha, rằng lá lằng là loại cây thanh khiết, mọc tự nhiên trong rừng nên không có thuốc trừ sâu. Cây lằng là một vị thuốc, có tác dụng thanh mát, giải độc, kích thích tiêu hóa, nhuận gan, có lợi cho sức khỏe... Ông nói để chúng tôi đổi ý mà ăn cùng. Có lẽ khi đó cha tôi cũng buồn vì bát canh quê không được chúng tôi đón nhận. Sau này, mỗi khi muốn ăn, ông chỉ nấu riêng một bát nhỏ cho riêng mình.

Ẩm thực quê hương

Cha tôi mất đã nhiều năm, một hôm dọn nhà, tôi phát hiện gói lá lằng phơi khô được cha tôi cẩn thận cất kỹ trên gác bếp. Quê tôi nghèo đất cày lên sỏi đá, không có đặc sản gì nổi trội để ai đó mỗi dịp ghé qua mua về làm quà. Nhưng với cha tôi, gói lá lằng khô ấy chính là món quà quê đáng giá, bởi nó gói ghém cả tình thân tộc, gói cả những ngọt bùi của một thời tuổi trẻ. Để rồi, dù có bôn ba lập nghiệp xứ người, ông vẫn không quên cái hương vị chân tình mộc mạc của quê hương.

anh-3.jpg
Món cá trích nướng cuốn lá lằng

Xuân qua, hè đến! Những chiếc thuyền đánh cá cập bờ chất đầy cả mùa cá trích trên khoang. Tại những khu chợ quê tôi mùa này, đâu đâu cũng thấy bày bán cá trích nướng than hoa vàng ươm. Trong những quán ăn dân dã hay những mâm cơm đãi khách, người quê tôi nhâm nhi chén rượu trắng rồi mời nhau món cá trích nướng cuốn lá lằng chấm với mắm tôm, mắm ruốc. Nhưng ngon hơn cả là chấm với nước mắm truyền thống được sản xuất từ làng nghề miền biển xứ Quỳnh. Cá trích gỡ xương, lọc lấy thịt nấu cùng lá lằng, ăn kèm với cà pháo trắng giòn tan thì ngon tuyệt! Ngoài ra, lá lằng còn có thể xào với lòng lợn, lòng dê, tạo ra một hương vị rất độc đáo. Khi nhai lá lằng, ban đầu ta cảm nhận có vị đắng nhẹ nơi đầu lưỡi, nhưng càng nhai kỹ càng cảm thấy vị ngọt bùi. Phải chăng đó là sự hồi đáp thử thách lòng người của một loài cây dân dã, hay là một thông điệp truyền đi triết lý cuộc đời?!

Bây giờ ở quê tôi, lá lằng không chỉ là món ăn tự cung tự cấp mà đã trở thành một sản phẩm hàng hóa. Còn rừng là còn cây lá lằng. Người dân một số xã của tỉnh Nghệ An đã rủ nhau vào rừng hái về bán cho các thương lái để chế biến lá lằng khô, đóng gói mang đi tiêu thụ. Trên các trang thương mại điện tử cũng thấy rao bán lá lằng khô, có lẽ để phục vụ những người xa quê như cha tôi và cả những người yêu thích món ăn dân dã xứ Nghệ rất có lợi cho sức khỏe này.

Với cá nhân tôi, do thường xuyên về quê nên cũng đã quen với các món ăn được chế biến từ lá lằng. Mỗi khi ăn, tôi không còn cảm giác đắng như xưa nữa. Ngược lại, tôi thấy nó là nét ẩm thực rất thú vị. Có lẽ, cái gốc gác người xứ Nghệ (cho dù không được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đó) vẫn ẩn sẵn trong dòng máu, trong huyết thống của tôi. Và bây giờ nó đã hiện hữu để giúp tôi cảm nhận rõ hơn hương vị ngọt ngào của quê hương mình.

Tin cùng chuyên mục