Không trả lại vé số trúng thưởng, phạm tội gì?

  • 03/07/2016 09:54
  • 0 bình luận
  • PV
  • In bài
ANTĐ - Ngày 17-6, Vũ Quang Đào (SN 1982) cùng Phạm Tuấn Chung (SN 1983) đang ngồi uống bia thì có một người mời mua vé số. Phạm Tuấn Chung lấy 15.000 đồng mua 3 tờ vé số. Trong khi Phạm Tuấn Chung trả tiền thì Vũ Quang Đào cầm 3 tờ vé số từ người bán cất vào túi quần và nói: “Để tôi cầm cho may mắn”. Phạm Tuấn Chung không phản ứng gì. 
Minh họa: Internet

Minh họa: Internet

Ngày hôm sau khi so vé số biết trúng thưởng, Đào đã đi nhận thưởng 150 triệu đồng rồi gọi điện cho Chung thông báo: “3 tờ vé số hôm qua đều trượt hết”. Sau đó Đào dùng số tiền này mua một chiếc xe máy. Trong một lần Đào mời Chung đến nhà chơi, khi thấy chiếc xe máy mới, Chung nghi ngờ, dò hỏi và biết Đào đã đến đại lý lĩnh thưởng 3 vé số mà mình mua.

Chung đã yêu cầu Đào trả lại số tiền trúng thưởng từ những chiếc vé xổ số mình bỏ tiền ra mua nhưng Đào kiên quyết từ chối và nói rằng vé không trúng thưởng nên đã xé bỏ. Phạm Tuấn Chung đã làm đơn, đề nghị cơ quan công an điều tra và vụ việc được xác định đúng như đã nêu trên.

Vấn đề đặt ra ở đây là việc Vũ Quang Đào không trả lại vé số trúng thưởng đã phạm tội gì?

 Ý kiến bạn đọc 

Đào đã chiếm giữ trái phép tài sản

Trong vụ việc này Vũ Quang Đào đã phạm tội chiếm giữ tài sản trái phép được quy định tại Điều 141, Bộ luật Hình sự. Theo đó, người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Trong vụ việc này có thể thấy Phạm Tuấn Chung là chủ nhân hợp pháp của 3 tờ vé số trúng thưởng, do Chung là người đã bỏ tiền ra mua. Còn Đào là người đã sử dụng tiền từ vé số trúng thưởng của Chung để mua xe máy cho mình. Tuy nhiên khi Chung có yêu cầu được nhận lại tài sản của mình thì Đào đã cố tình không nộp trả bằng cách nói dối là đã xé bỏ vé số. 

Nguyễn Ánh Tuyết (Lục Ngạn - Bắc Giang)

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

Căn cứ vào nội dung vụ việc, tôi cho rằng, hành vi của Đào đã thể hiện rõ việc lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của anh Chung. Theo quy định tại Điều 139, Bộ luật Hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, dấu hiệu đặc trưng của tội này đó là có hành vi gian dối.

Trong vụ việc này Đào đã đưa ra những thông tin không đúng để anh Chung tin đó là sự thật. Cụ thể khi đã dò vé số biết trúng thưởng, Đào đã đi nhận thưởng 150 triệu đồng rồi gọi điện cho Chung nói: “3 tờ vé số hôm qua đều trượt hết”.

Anh Chung nhầm tưởng vào những thông tin mà Đào cung cấp nên đã không so lại những chiếc vé số mà mình đã mua trước đó. Có thể thấy, sự gian dối này của Đào là nhằm mục đích để chiếm đoạt số tiền trúng thưởng của 3 tờ vé số mà anh Chung đã mua. Do đó có đủ cơ sở để khẳng định Đào đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Phan Hoành Anh (Quỳnh Lưu - Nghệ An)

Sử dụng trái phép tài sản

Trong vụ việc này, anh Chung đã bỏ tiền ra mua 3 chiếc vé số thì có thể coi đó chính là tài sản hợp pháp của anh Chung. Khi mua những chiếc vé số này anh Chung không hề nói là tặng cho Đào. Việc Đào nhận lấy 3 vé số từ người bán cất vào túi quần của mình như Đào nói là “để cho may mắn”.

Tuy nhiên, khi biết những vé số này đã trúng thưởng, Đào đã không trả lại cho anh Chung mà dùng để mua xe máy cho mình và sau đó nói dối anh Chung là những vé số này đã bị trượt. Như vậy có thể thấy rõ ràng Đào vì vụ lợi mà đã sử dụng trái phép tài sản của anh Chung. Hành vi này của Đào đã vi phạm Điều 142, Bộ luật Hình sự tội sử dụng trái phép tài sản.

Hoàng Quốc Quang (Quận 3 - TP.HCM)

 Bình luận của luật sư 

Trong vụ việc này trước hết có thể khẳng định Đào không phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141, Bộ luật Hình sự) và tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142, Bộ luật Hình sự) vì theo quy định của Bộ luật Hình sự nhóm tội chiếm giữ trái phép tài sản và sử dụng trái phép tài sản là các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt.

Trong khi đó, căn cứ vào các tình tiết trong vụ việc nêu trên có thể thấy hành vi của Vũ Quang Đào lại thể hiện tính chiếm đoạt rõ ràng. Dựa vào các yếu tố liên quan đến vụ việc, có cơ sở để khẳng định Vũ Quang Đào đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139, Bộ luật Hình sự.

Trước hết, xét về mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Dấu hiệu pháp lý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được định nghĩa là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt . 

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật. Cụ thể trong trường hợp này, Đào đã có hành vi lừa dối Chung, khi biết tấm vé số trúng thưởng lẽ ra Đào phải trả lại cho chủ của tấm vé là Chung nhưng Đào đã đi nhận thưởng và nói dối với Chung là “3 tờ vé số đều trượt hết”.

Hành vi gian dối thứ hai là khi sau khi đến nhà Đào chơi, nhìn thấy chiếc xe máy mới, Chung đã nghi ngờ và tìm hiểm thì biết tấm vé của mình trúng thưởng, Đào lại tiếp tục gian dối bằng cách nói dối là vé không trúng thưởng nên đã xé bỏ. Như vậy, Đào đã cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa Chung, 

Về hành vi chiếm đoạt: Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm hữu đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội, ở đây là Đào. Đào đã giữ lại tài sản là phần thưởng trị giá 150 triệu đồng lẽ ra phải giao cho Chung. Vì đã tin vào thông tin mà Đào cung cấp là tấm vé số không trúng thưởng nên Chung đã không nhận giải.

Ngay từ đầu tình huống, Đào đã yêu cầu giữ hộ tấm vé cho may mắn và Chung đã tin tưởng giao cho Đào. Trường hợp này, tội phạm hoàn thành ngay khi Đào gọi điện cho Chung và nói tấm vé không trúng thưởng (trước đó đã tự ý đi nhận thưởng mà không nói với Chung).

Hậu quả do hành vi của Đào gây ra là những thiệt hại cho quan hệ sở hữu thể hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất. Ở đây, Chung đã bị mất số tiền 150 triệu đồng mà lẽ ra Chung phải được hưởng do bỏ tiền ra mua vé số. Hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 150 triệu đồng là kết quả của hành vi lừa dối, hành vi chiếm đoạt xảy ra ngay khi hành vi lừa dối được hoàn thành.

Về mặt chủ quan của tội phạm: Đào đã đưa ra thông tin giả là tấm vé không trúng thưởng với mục đích là để Chung tin đó là sự thật và từ bỏ quyền sở hữu của mình với tấm vé số (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xảy ra khi tấm vé số đã  trúng thưởng, còn khi tấm vé số không trúng thưởng thì giá trị của tấm vé số không đủ để cấu thành tội). Đào đã đưa ra thông tin giả để Chung tin đó là sự thật.

Trường hợp này, động cơ và mục đích phạm tội của Đào có tính chất tư lợi, lấy tiền để phục vụ nhu cầu cá nhân của mình. Lỗi của Đào là lỗi cố ý trực tiếp. Đào biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.

Trong vụ việc này, Chung đã hoàn toàn tin là tấm vé mình mua không trúng thưởng. Đào đã có chủ tâm chiếm đoạt tài sản của Chung và đã hành động để biến mục đích của mình được thực hiện.

Ở đây về lý trí Đào nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và thấy trước được hậu quả của hành vi phạm tội của mình. Từ những căn cứ pháp lý và các dấu hiệu của tội phạm nêu trên, ta có thể thấy hành vi của Đào cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139, Bộ luật Hình sự.

Điều 139, Bộ luật Hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Luật sư Đoàn Mạnh Hùng, (Văn phòng Luật sư Hùng Mạnh)

Tin cùng chuyên mục

Liên kết hữu ích