Tiếc một cơ hội

  • 23/12/2010 06:56
  • 0 bình luận
  • Đan Thanh
(ANTĐ) - Ngay từ năm 2009, Chính phủ đã quyết tâm lấy “ổn định kinh tế vĩ mô” làm trọng, là ưu tiên hàng đầu trong công tác chỉ đạo, điều hành từ các bộ, ngành cho tới các địa phương. Cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 2010, nền kinh tế đã bắt đầu ổn định và khởi sắc, song có lẽ vì mải đuổi theo mục tiêu tăng trưởng nên nước ta đã để tuột một cơ hội hiếm có.

Tiếc một cơ hội

(ANTĐ) - Ngay từ năm 2009, Chính phủ đã quyết tâm lấy “ổn định kinh tế vĩ mô” làm trọng, là ưu tiên hàng đầu trong công tác chỉ đạo, điều hành từ các bộ, ngành cho tới các địa phương. Cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 2010, nền kinh tế đã bắt đầu ổn định và khởi sắc, song có lẽ vì mải đuổi theo mục tiêu tăng trưởng nên nước ta đã để tuột một cơ hội hiếm có.

Trên đây là sự tiếc nuối của một tiến sĩ kinh tế, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương. Một số chuyên gia kinh tế trong nước cũng đồng tình chia sẻ nỗi tiếc nuối đó. Bởi vì, vào thời điểm nền kinh tế thực sự có sự ổn định không phải chỉ theo nhận định chủ quan mà cả một số chuyên gia, tổ chức quốc tế cũng công nhận, thì chúng ta lại bắt đầu nới lỏng tiền tệ. Khi đó, chúng ta đã vội vàng khẳng định tăng trưởng GDP cả năm sẽ là 6,7-6,8%.

Chính vì việc nới lỏng tiền tệ quá sớm đã gây thêm khó khăn cho giai đoạn hiện nay, làm bất ổn kinh tế vĩ mô, làm giảm lòng tin vào tiền đồng. Theo quan điểm của vị tiến sĩ kinh tế, Quốc hội đã khá nghiêm khắc khi đặt ra các chỉ tiêu kinh tế, đặc biệt là tăng trưởng GDP 7-7,5% trong năm 2011, nhưng mở ngoặc là 8% khi điều kiện cho phép. Nếu đã xác định mục tiêu chính là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thì đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao có thể khó thực hiện.

Vì thế chỉ nên tăng trưởng từ 6,5-7%, bởi tăng trưởng kinh tế hiện nay nhìn chung vẫn phụ thuộc vào đầu tư ngân sách. Cách tăng trưởng này không mang lại nhiều lợi ích cho mục tiêu tái cơ cấu kinh tế. Theo phân tích của giới chuyên gia, nếu điều chỉnh GDP thì mức lạm phát năm 2011 có khả năng chỉ vào khoảng 6-6,5% là vừa.

Trong hai, ba năm tới nên khống chế lạm phát vào khoảng 4-6%. Khi đó, nhìn vào tỷ giá, chênh lệch giữa Việt Nam và các đối tác thương mại từ 2-3%; mức áp lực mất giá tiền đồng chỉ từ    2-3% so với USD. Đây là con số “đẹp” để điều chỉnh chính sách vĩ mô. Còn hiện nay, mức lạm phát 10%, lãi suất huy động VND là 12%, lãi suất USD thấp thì rõ ràng không tránh khỏi đầu cơ và khó làm cho chính sách nhất quán. Không nên quên rằng, Trung Quốc tăng trưởng GDP 10%/năm nhưng mục tiêu lạm phát của họ chỉ là 4%/năm.

Với mức lạm phát như vậy, tất nhiên chính sách lãi suất và tỷ giá mới nhất quán với nhau và giảm được đầu cơ. Bình luận về các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát hiện nay của Chính phủ, theo các chuyên gia, Chính phủ đã nhận ra việc cần làm ngay là phải ổn định kinh tế vĩ mô nên đang hành động rất quyết liệt.

Tuy vậy, trong nền kinh tế thị trường, khi đưa ra thông điệp bình ổn giá cần dựa vào chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa (hai chìa khóa cơ bản nhất) và chính sách tỷ giá, hơn là biện pháp hành chính. Đương nhiên, tại một thời điểm bất thường như xảy ra thiên tai, thì phải sử dụng biện pháp hành chính để ổn định cuộc sống cho người dân. Ở các nước trên thế giới, khi nói tới lãi suất là hàm ý thắt chặt hay nới lỏng tiền tệ rõ ràng ngay. Song ở Việt Nam, lãi suất và tổng cung tiền tăng bao nhiêu nhiều khi không tuân theo quy luật đó. Tức là khi lãi suất tăng thì chưa chắc cung tiền đã giảm một cách tương ứng.

Tiếc một cơ hội đã bỏ lỡ để ổn định kinh tế vĩ mô là chuyện đã rồi. Vấn đề là, theo Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, trong hoạch định chính sách, nhiều khi không thấy chính sách tiền tệ đâu, nhưng trong đời sống kinh tế thì người ta không nói gì đến chính sách tài khóa mà chỉ nhăm  nhăm nói tới chính sách tiền tệ.

Đan Thanh

Tin cùng chuyên mục