Những quả bom hạt nhân duy nhất của châu Phi
Trong lịch sử, Nam Phi (dưới chế độ phân biệt chủng tộc) là quốc gia duy nhất ở châu Phi từng sở hữu vũ khí hạt nhân. Thập niên 1980, nước này đã tự chế tạo thành công 6 quả bom nguyên tử phân hạch (và quả thứ 7 đang dở dang) nhằm răn đe các mối đe dọa quân sự từ bên ngoài như phong trào cách mạng ở châu Phi (được Cuba và Liên Xô (cũ) hậu thuẫn), phong trào tìm kiếm độc lập và tự do khỏi ách thống trị thuộc địa, đặc biệt là ở Mozambique và Angola… Tuy nhiên, chính quyền Nam Phi đã tự nguyện tháo dỡ, tiêu hủy toàn bộ vào đầu những năm 1990, trở thành nước duy nhất tự nguyện từ bỏ vũ khí hạt nhân.
Lý do của hành động này, một phần vì chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi phải đối mặt với sự cô lập quốc tế, một phần về mặt kinh tế, việc duy trì vũ khí hạt nhân cũng vô cùng tốn kém. Nhưng quan trọng nhất, họ lo ngại rằng Đại hội Dân tộc châu Phi (ANC - một đảng chính trị toàn châu Phi) sẽ nắm giữ vũ khí hạt nhân khi chuyển giao quyền lực. Tổng thống Frederik Willem de Klerk đã miễn cưỡng xem xét việc nới lỏng luật phân biệt chủng tộc, kêu gọi giải tán kho vũ khí hạt nhân và tha tù cho ông Nelson Mandela, khi đó là Phó Chủ tịch của ANC. ANC cũng coi đó là một chiến thắng chống lại vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Như nhà lãnh đạo Mandela đã tuyên bố năm 1998 tại Đại hội đồng Liên hợp quốc về Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân: “Chúng ta phải đặt câu hỏi, có thể nghe có vẻ ngây thơ đối với những người đã đưa ra những lập luận tinh vi để biện minh cho việc từ chối loại bỏ những vũ khí hủy diệt hàng loạt khủng khiếp và đáng sợ này: Tại sao họ lại cần chúng?”. Ông nói thêm: “Trên thực tế, không thể đưa ra câu trả lời hợp lý để giải thích một cách thỏa đáng cho hậu quả cuối cùng của Chiến tranh Lạnh và sự gắn bó với việc sử dụng mối đe dọa vũ lực để khẳng định vị thế thống trị của một số quốc gia so với các quốc gia khác”.
Hiệp ước Pelindaba
Cũng giống như ANC, giới học giả toàn châu Phi đều có quan điểm cho rằng vũ khí hạt nhân gắn liền với sự hủy diệt và chủ nghĩa đế quốc. “Châu Phi nên được tuyên bố là khu vực phi hạt nhân và được giải phóng khỏi những ràng buộc của Chiến tranh Lạnh” - ông Kwame Nkrumah, Tổng thống đầu tiên của Ghana, đã tuyên bố trong Hội nghị Thượng đỉnh (đầu tiên) của Tổ chức Thống nhất châu Phi (nay là Liên minh châu Phi) vào tháng 5-1963.
Ông Nkrumah coi vũ khí hạt nhân là phương tiện hủy diệt, không đóng góp gì cho sự phát triển của lục địa đen. Ông nhấn mạnh điều này vào năm 1960 trong phản ứng của mình đối với vụ thử hạt nhân đầu tiên của Pháp. Pháp trên thực tế đã thực hiện chủ nghĩa thực dân hạt nhân với hơn 200 vụ thử hạt nhân từ năm 1960 đến năm 1966 chỉ riêng ở Sahara (và sau đó ở Polynesia thuộc Pháp từ năm 1966 đến năm 1996). Hơn 10.000 công nhân cùng với cư dân Tuareg đã bị phơi nhiễm với nhiều dạng phóng xạ lan rộng khoảng 3.000km từ Algeria (ở Bắc Phi) qua Sahara đến Sudan (ở Đông Bắc Phi) và Senegal, Burkina Faso, Bờ Biển Ngà (ở Tây Phi). Tác động tiêu cực lớn đến nỗi chính quyền Pháp đã ngăn chặn các cuộc điều tra quốc tế, thậm chí cho đến năm 2014 họ đã báo cáo thiếu dữ liệu về tác động thực tế. Đối với nhà lãnh đạo KwameNkrumah, đây là một nỗ lực nhằm chia rẽ các quốc gia châu Phi. Ông tuyên bố: “Chúng tôi ở châu Phi muốn sống và phát triển… chúng tôi không tự giải phóng mình khỏi hàng thế kỷ đế quốc và thực dân chỉ để bị tàn phá và hủy diệt bởi vũ khí hạt nhân”.
Những tư tưởng do ông Nkrumah chủ trương đã hình thành nên nền tảng của Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân châu Phi, còn được gọi là Hiệp ước Pelindaba. Hiệp ước được đặt tên theo trung tâm nghiên cứu hạt nhân Pelindaba của chính Nam Phi (Pelindaba có nghĩa là “kết thúc câu chuyện” trong tiếng Zulu) và trở thành biểu tượng cho sự kết thúc chương trình vũ khí hạt nhân của nước này.
Mặc dù hiệp ước được mở để ký kết vào tháng 4-1996, nhưng đến ngày 15-7-2009 mới có hiệu lực. Sự chậm trễ này do khó khăn trong thu thập đủ 28 văn kiện phê chuẩn tối thiểu cần thiết để thông qua hiệp ước. Cụ thể, đó là tình thế không còn cấp bách thời hậu Chiến tranh Lạnh, nội chiến liên tiếp ở Cộng hòa Dân chủ Congo, Sierra Leone và Liberia, cũng như quá trình chuyển đổi thể chế của Liên minh châu Phi từ năm 1996 đến năm 2002. Hiệp ước Pelindaba hiện có 51 quốc gia ký kết. Hiệp ước, như đã quy định tại Điều 3, từ bỏ toàn diện việc nghiên cứu, phát triển, sản xuất, dự trữ, mua sắm, thử nghiệm, sở hữu, kiểm soát hoặc bố trí vũ khí hạt nhân, cũng như tìm kiếm sự hỗ trợ để thực hiện các hoạt động đó hoặc việc đổ chất thải phóng xạ. Hiệp ước này bổ sung cho Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân của Liên hợp quốc (NPT) với các điều khoản tương tự. Lời mở đầu của Hiệp ước Pelindaba đặc biệt khẳng định việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình theo Điều IV của Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). NPT có 191 quốc gia ký kết, bao gồm 53 quốc gia châu Phi, cũng như sự phê chuẩn của 5 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Pháp và Anh.
Tiêu chuẩn kép trong trật tự hạt nhân
Trong khi châu Phi có sự rõ ràng về mặt pháp lý đối với vũ khí hạt nhân và giải trừ quân bị thì ngược lại, hệ thống hạt nhân toàn cầu vẫn có những điểm mơ hồ. Đơn cử, sự chồng chéo về thỏa thuận chia sẻ vũ khí hạt nhân giữa một số thành viên NATO khi họ được bảo vệ dưới chiếc ô hạt nhân của Mỹ, trong đó hơn 100 vũ khí hạt nhân thuộc sở hữu của Mỹ được lưu trữ tại 5 quốc gia thành viên NATO trên 6 căn cứ khác nhau.
Một điểm mơ hồ khác phát sinh từ việc các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân (bao gồm Ấn Độ và Pakistan) không phê chuẩn Hiệp ước NPT. Triều Tiên đã ký hiệp ước này vào năm 1985, nhưng đã rút khỏi hiệp ước vào năm 2003 và tuyên bố mình là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân. Cuối cùng là tranh cãi về chính sách hạt nhân của Israel. Israel chưa ký cũng chưa phê chuẩn NPT và cũng không cho phép Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) tiến hành thanh tra toàn diện một số địa điểm hạt nhân của mình.
Không thể phủ nhận rằng cả 3 sự mơ hồ nói trên đều xuất phát từ nhu cầu tự vệ hoặc răn đe. Giáo sư Patrick Loch Otieno Lumumba, một luật sư và nhà hoạt động người Kenya, đồng thời là cựu Hiệu trưởng Trường Luật Kenya, từng nói: “Đôi khi, tôi ước chúng ta (châu Phi) cũng có vũ khí hạt nhân, bởi vì đó là ngôn ngữ duy nhất mà châu Âu và Mỹ hiểu”. Tuyên bố này phản ánh một cách khái quát sự can thiệp liên tục vào công việc nội bộ của các nước châu Phi, bao gồm cả việc NATO đưa quân vào Libya năm 2011 mà một số người cho rằng sẽ không xảy ra nếu nước này sở hữu vũ khí hạt nhân để răn đe khi bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Một số nước châu Phi, đặc biệt là Niger, Namibia và Nam Phi, cung cấp Uranium cho châu Âu để sản xuất năng lượng hạt nhân và ở một mức độ nào đó cho mục đích phòng thủ hạt nhân. Trong khi đó, hầu hết các nước châu Phi dựa vào viện trợ quân sự nước ngoài, vốn rất dễ biến động. Tuy nhiên, giữa những căng thẳng địa chính trị leo thang, trong khi các cường quốc sở hữu vũ khí hạt nhân định hình khả năng răn đe chiến lược từ các đối thủ, châu Phi vẫn được đánh giá cao bởi quan điểm rõ ràng về “nói không” với vũ khí hạt nhân vì hòa bình và ổn định khu vực.