Thành phố yêu và biết chơi hoa

0 Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến
ANTD.VN - Thời nhà Lý, làng Nghi Tàm có cánh đồng trồng hoa gọi là cánh đồng Bông. Làng Yên Phụ cũng trồng hoa nên có tên là Yên Hoa. Thời Trần có một con đường từ bến Đông Bộ Đầu vào thành trồng toàn hoa hòe gọi là đường Hòe Nhai (tương ứng khu vực phố Hòe Nhai hiện nay). 

ảnh 1Thú chơi hoa, cây cảnh  cũng có nhiều khác lạ nhưng nếu chơi hoa truyền thống thì cơ bản người ta vẫn  tuân theo quy ước và kiểu chơi của người Thăng Long xưa  

Phía Tây thành có con đường trồng toàn liễu gọi là Liễu Giai (tương ứng với khu vực Liễu Giai hiện nay). Vùng ven phía Nam kinh đô cũng có rất nhiều làng trồng các loại mai nên người ta lấy tên mai đặt tên làng như: Bạch Mai, Hồng Mai, Hoàng Mai… Khu vực này có giống đào thất thốn, hoa nở đôi rất quý. Hoa ở Thăng Long chủ yếu là: sói, ngâu, huệ, hải đường... Dân chúng dâng hoa cúng lễ trong các chùa vì nhà Lý, nhà Trần rất trọng đạo Phật.

Từ xưa người Thăng Long đã yêu hoa. Năm 1429, tức là chỉ một năm sau chiến thắng quân Minh, Lê Lợi khi đó đã lên ngôi ra chỉ dụ bắt các nhà các quan phải trồng hoa, cây và rau. Có lẽ vì Thăng Long tan nát sau 20 năm bị quân Minh chiếm đóng nên Lê Lợi muốn bộ mặt kinh thành phải mới nên mới ra chỉ dụ như vậy. “Đại Việt sử ký” chép: “Cho đô tổng quản và quản lĩnh các đạo cùng các quan viên ở các phường trong kinh thành biết rằng hiện nay đất của các công hầu, bách quan đã có phần nhất định đều phải trồng cây, trồng hoa, không được bỏ hoang…”. Đến thời Lê, thú chơi hoa, cây cảnh ở Thăng Long được Phạm Đình Hồ mô tả trong “Vũ trung tùy bút”: “Buổi ấy bao nhiêu loài trân cầm dị thú quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian”.

ảnh 2Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến

Nhà ở Hà Nội xưa hình ống, cũng 3 hay 5 gian như ở quê song khác là đầu hồi quay ra mặt phố. Mặt tiền có thể hẹp nhưng nhà thường dài và kiến trúc khá giống nhau. Giữa gian mặt tiền và gian trong bao giờ cũng có một khoảng sân, vừa thoáng đãng, vừa là khoảng cách lửa nếu hỏa hoạn xảy ra. Và ở khoảng sân này, các gia đình trung lưu nho nhã thường có non bộ, đặt một vài chậu cây cảnh, trồng một gốc đinh lăng, cây sói, khóm hồng hay một gốc chi mai cho đẹp nhà, đồng thời cũng là nơi gia chủ thư giãn tâm hồn. 

Ở vùng ven kinh thành, các nhà đều có cấu trúc: nhà - hiên - sân - vườn và bao  quanh vườn thường là hàng dâm bụt lá xanh thẫm, hoa đỏ tươi được xén phẳng. Hai bên từ đầu ngõ vào sân thường trồng hai hàng tóc tiên, một luống hồng, luống huệ, mấy khóm nhài. Bên chum nước là cây lan tiêu hay dạ hợp lan ưa ẩm. Trước hiên là bụi sói, một cây tầm xuân “nở ra cánh biếc”.

Chơi cây hoa phải biết làm nó đẹp hơn, ngâu to thì cắt tỉa tạo thành hình tròn như mâm xôi hoặc đôi hạc đứng chầu. Chơi hoa, cây cảnh ở Thăng Long theo năm tháng được nâng lên thành  nghệ thuật. Họ am hiểu kỹ thuật trồng, cắt tỉa lá cành, bón phân, biết tuân theo tín ngưỡng. Ví dụ, ngâu thì phải trồng đôi vì ngâu kiêng trồng lẻ. Nhà kinh thành không rộng, không có hồ ao trước mặt nên để “tụ thủy” (nôm na là lấy năng lượng từ vũ trụ xuống) cho nhà cửa tràn trề dương khí nên nhà nào cũng có ang nước trong đặt hòn non bộ.

Ngoài ra, họ cũng hiểu tính biểu trưng của từng loài hoa hay cây theo quy ước dân gian. Đào màu đỏ là ấm khí dương, lan là “vương giả hương” không phàm tục, thanh nhã; hải đường nụ to, hoa lớn cánh dầy nhưng hương kín đáo biểu tượng cho sự phúc hậu, đầy đủ.

Hoa cúc tượng trưng cho sự khiêm tốn, điềm đạm, giàu tâm hồn, vì thế vào mùa thu, dịp Tết Trùng cửu, các nhà Nho thường lên núi uống “hoàng hoa tửu” (rượu cúc) mạn đàm thơ phú. Rồi mẫu đơn là hoa phú quý, hoa “thiên hương quốc sắc”. Từ những năm 1930, nhiều nhà Nho còn kỳ công tỉa củ thủy tiên để hoa nở đúng vào đêm Giao thừa và sau đó còn mang ra đình Yên Phụ thi.  

Một chậu hoa, cây thế, một hòn núi giả không những thể hiện trình độ thẩm mỹ mà còn nói lên tâm tư tình cảm của chủ nhân. Về am hiểu chơi hoa của người Thăng Long, trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ viết: “Người xưa cũng  thường cho tinh thần đi chơi ngoài cảnh vật trong cách chơi mà vẫn cái ý về thế giáo thiên luân. Vậy nên mượn khóm hoa, tảng đá để ký thác hoài bão cao cả”. Cuối thế kỷ XIX, chơi hoa, cây cảnh cũng có những thay đổi do nhiều giống hoa được nhập từ nước ngoài vào. Người Hà Nội cũng học cách chơi hoa, cắm hoa  của phương Tây làm phong phú thêm thú chơi này.

Trong cuốn “Một chiến dịch ở Bắc Kỳ” (xuất bản năm 1896), tác giả Hocquard viết về tài nghệ các cô bán hoa ở làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp: “Các cô đắp một cái tháp bằng đất sét trên một khoanh tròn cắt ra từ thân cây chuối, trên tháp các cô cắm hoa, cành cây nhỏ cùng những quả chín mọng màu đỏ, màu tím phủ hết chiếc tháp rất khéo, tạo ra sự vui mắt. Người An Nam cũng tỏ ra có tài đặc biệt trong việc dùng hoa quả để tạo ra những con vật huyền hoặc. Họ làm ra những lẵng hoa trang trí bàn ăn trong những dịp vui”. Hocquard viết tiếp: “Vào dịp Tết, ở phố còn có chợ chuyên bán hoa”.  

Ngày nay, những làng hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Nhật Tân nổi tiếng một thời không còn nhưng thay vào đó là vùng hoa: Tứ Liên, Tây Tựu, Liên Mạc, Mê Linh... và hàng vạn vườn hoa mini trên sân thượng, ban công hay bất cứ chỗ nào trồng được của các gia đình với nhiều giống mới lạ. Thú chơi hoa, cây cảnh  cũng có nhiều khác lạ nhưng nếu chơi hoa truyền thống thì cơ bản người ta vẫn tuân theo quy ước và kiểu chơi của người Thăng Long xưa.                                                                                   

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top