Những câu chuyện thú vị về con đê bảo vệ kinh thành Thăng Long thoát nạn đại hồng thủy

0 Nguyễn Ngọc Tiến
ANTD.VN - Kể từ khi vua Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long thì những con đê bảo vệ kinh thành khỏi nạn hồng thủy cũng bắt đầu được xây dựng. Tuy nhiên, ít ai biết công trình trị thủy kỳ vĩ nhất, tồn tại lâu bền nhất của đất Thăng Long đã trải qua bao nhiêu biến cố để vẫn hiện hữu đến tận ngày nay.

Nhất thủy, nhì hỏa

ảnh 1Đoàn tàu chở đầy đá hộc trấn giữ mặt cầu Long Biên trong trận lụt năm 1971

Trong lịch sử 1.000 năm, Thăng Long - Hà Nội đã hứng chịu nhiều trận lụt lớn, nhất là thời Lý, Trần. “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Năm 1078 nước tràn vào đến cửa Đại Hưng (tương ứng khu vực Cửa Nam hiện nay), năm 1128 kinh thành bị lụt lớn, năm 1243 kinh thành bị ngập nhiều chỗ, năm  1265 nước ngập phường Cơ Xá (tương ứng với khu vực ngoài đê từ Phú Thượng xuống cảng Hà Nội hiện nay) tràn vào trong thành, năm 1270 nước to đi lại trong thành phải dùng thuyền...”. 

Nguyên nhân gây ra lụt lội ở Thăng Long thời Lý, Trần chủ yếu là do vỡ đê vì đê thời kỳ này thấp, lại được đắp theo kiểu tam giác nên không chống chọi được với sức rất lớn của nước sông Tô Lịch và sông Hồng. Năm 1248 nước sông Hồng lên to, đê vỡ làm kinh  thành bị lụt, vua Trần Thái Tông đã ra lệnh cho các tỉnh ở hai bên sông từ thượng nguồn ra tới biển phải đắp đê phòng lũ. Từ đó, việc đắp đê được chú trọng.

Năm 1637, Công ty Đông Ấn -  Hà Lan được phép mở thương điếm tại Thăng Long. Thương điếm này là ngôi nhà xinh xắn nằm kẹp giữa sông Tô Lịch và sông Hồng. Nhưng năm 1646, nước sông Hồng lên to tràn qua đê khiến thương điếm bị ngập nên họ đã đề xuất với triều đình đắp con đê chạy dọc theo sông Hồng (tương ứng từ Nhà máy nước Yên Phụ hiện nay kéo xuống hồ Hoàn Kiếm) và họ cũng đề nghị không đắp đê theo kiểu tam giác mà đắp theo kiểu hình thang để thân đê to và chắc  hơn. Chúa Trịnh Tráng chấp thuận và công việc kéo dài đến đời chúa Trịnh Tạc. Từ đó đê bảo vệ Thăng Long ít vỡ hơn.

Những ý kiến trái chiều

ảnh 2Một ngôi làng ngập trong nước lũ sông Hồng khoảng năm 1900

Tuy nhiên đê cao bao nhiêu thì nước lại dâng lên bấy nhiêu như truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh. Vỡ đê vẫn xảy ra và không phải vô cớ mà dân gian nói: “Thủy, họa, đạo, tặc”, hậu quả do lũ lụt gây ra còn lớn hơn cả cháy nhà. Nhưng đắp đê vô cùng tốn kém khiến ngân khố triều đình có lúc trống rỗng, lại thêm không thể huy động mãi sức dân nên năm 1846, Tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Đăng Giai đã có bản tấu lên vua Thiệu Trị xin phá đê.

Trong bản tấu, Nguyễn Đăng Giai cho rằng, thay vì đắp đê triều đình nên cho nạo vét, khai thông sông Hồng, sông Đuống. Nguyễn Đăng Giai lập luận vỡ đê vì có đê và không có đê nước mùa  mưa lũ sẽ trải đều ra vùng đồng bằng thiệt  hại sẽ ít hơn so với vỡ đê. Mặt khác, Nguyễn Đăng Giai cũng lạc quan cho rằng, nước tràn vào ruộng đồng đất sẽ tốt hơn vì có phù sa, tôm cá cũng nhiều hơn.

Thế nhưng vua Thiệu Trị không dám quyết. 16 năm sau, ngày 5-10-1861, Khoa đạo Ngự sử Vũ Văn Bính lại dâng bản điều trần nói về cái hại của việc giữ đê và cái lợi của việc bỏ đê. Bản điều trần này lặp lại ý kiến của Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai. Nguyễn Trường Tộ cũng chủ trương phá đê, khai thông sông và đào kênh. Vua Tự Đức triệu tập một hội nghị lớn thẩm nghị bản điều trần này và tất cả đều cho rằng không nên bỏ đê, nhưng cần khơi thông sông, củng cố hệ thống đê cũ còn lại ở hai bờ. Năm 1884, mưa bão lớn làm sụt lở bờ sông sát khu vực Đồn Thuỷ (tương ứng từ phố Phạm Ngũ Lão đến Bệnh viện Trung ương quân đội 108 hiện nay). Nước ngập cả khu vực này và may mắn cho quân Pháp vì úng ngập nên quân Cờ Đen đang bao vây Đồn Thủy buộc phải rút. Sau trận lụt người Pháp đã kè đá ở bên ngoài bờ sông Hồng (chỗ Hàng Than) dài 400m để hướng dòng chảy về phía Gia Lâm.

An nguy chỉ một chỗ này

ảnh 3Trên đê sông Hồng đầu thế kỷ XX

Trong thế kỷ 20, đồng bằng sông Hồng và Hà Nội hứng chịu 26 trận lũ lớn. Đê Liên Mạc (nay thuộc quận Bắc Từ Liêm) vỡ năm 1915, năm 1926 vỡ đê tả ngạn sông Hồng vùng Gia Quất, Ái Mộ (nay thuộc quận Long Biên). Trận lũ lụt năm 1926 khiến nội đô Hà Nội bị ngập nặng vì lúc đó chưa có đoạn đê dọc đường Trần Nhật Duật - Trần Quang Khải ngày nay. Năm 1945, lũ lớn gây vỡ đê tại 79 điểm, ngập 11 tỉnh trong đó có Hà Nội với tổng diện tích 312.000ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4 triệu người. 

Thời kỳ Pháp thuộc, một số kỹ sư thủy nông Pháp sau khi nghiên cứu quy luật lũ và đo đạc lượng nước trong mùa mưa cũng kiến nghị bỏ đê, nhưng toàn quyền Đông Dương không dám ra quyết định. Cuối cùng thì thập niên 30, chính quyền cho xây đập Phùng để nếu nước sông Đáy (chi lưu của sông Hồng) lên to thì sẽ mở cửa đập để giảm lượng nước cho sông Hồng. Họ cũng xác định nếu nước sông Hồng lên quá to uy hiếp an toàn Hà Nội thì sẽ phá một số đoạn đê ở Ninh Bình. Thế nhưng tính toán chủ quan của con người không thể lường được sự cuồng nộ của thiên nhiên.

Năm 1971, những trận mưa to liên tục và một cơn bão lớn làm nước trên sông Thao, sông Lô và sông Đà đã hợp lại gây nên cơn lũ lịch sử ở sông Hồng. Mực nước sông Hồng ngày 20-8 lên đến 14,13 mét ở Hà Nội (cao hơn mực nước báo động 3 là 2,63 mét) gây ngập úng hầu hết khu vực ngoài đê từ Nhật Tân kéo xuống Thanh Trì. Mưa lũ năm 1971 đã gây vỡ đê ở 3 địa điểm, làm chết 100.000 người, úng ngập 250.000ha và hơn 2,7 triệu người bị thiệt hại. 

Thập niên 80 của thế kỷ 20, một hội nghị lớn về đê được tổ chức. Tại hội nghị có 2 luồng ý kiến, một số cho rằng bỏ đê có nhiều cái lợi, số khác cho rằng bỏ đê gây nguy hiểm. Và cuối cùng dù thấy bỏ đê lợi hơn nhưng không ai dám quyết. Và cho hôm nay, hàng nghìn km đê vẫn sừng sững bao quanh Hà Nội và các tỉnh.

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top