Người Hà Nội và sen

0 Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến
ANTD.VN - Sen là loài cây sống dưới nước rất đặc biệt: Hoa để ngắm, củ, hạt làm thực phẩm, tâm sen làm thuốc, lá để gói. Sen có ở hầu hết các tỉnh đồng bằng từ Bắc vào Nam và rất quen thuộc với người dân, nhưng ở Hà Nội, sen với người, người với sen lại quấn quýt nhau. 

ảnh 1

Thú chơi với sen 

Xưa hồ đầm nào ở Hà Nội cũng trồng sen. Phía Bắc có hồ Tây, phía Nam có hồ Vọng và hồ Thịnh Liệt, phía Tây Nam có hồ Liên Trì (tương ứng phố Nguyễn Gia Thiều, Trần Quốc Toản, Nguyễn Du), phía Tây có hồ Ngọc Khánh, Giảng Võ… Thậm chí chùa Bái Ân (tương ứng với Bưu điện Bờ Hồ hiện nay) trồng sen nhiều đến mức dân chúng gọi luôn bằng tên khác là chùa Liên Trì (hồ sen). Nhưng sen nhiều nhất là ở Tây Hồ. Sen Tây Hồ qúy vì bông lớn  khi nở to như hai bàn tay mở, cánh mỏng mịn như lụa, có trăm cánh (còn được gọi là Bách Diệp) xếp lớp bao bọc lấy nhụy, đài và  gạo, giữ cho sen mùi thơm thuần khiết, ngát đượm.

Đấy vàng đây cũng đồng đen

Đấy hoa thiên lý đây sen Tây Hồ

Sen mọc từ đầm nước, từ một cõi trần ô trọc, đã vươn lên trở thành một bông hoa thanh cao, đi vào tâm thức mọi người, trở thành hình tượng trong nghệ thuật, trong kiến trúc và điêu khắc. Đặc biệt, hoa sen trở thành biểu tượng trong nghệ thuật Phật giáo phương Đông, tượng trưng cho vẻ đẹp thần bí, huyền ảo, tư tưởng sâu kín. Từ lâu sen đã trở thành đề tài của thi ca. Vua Lê Thánh Tông là người  đầu tiên làm thơ về sen. Bài “Hoa sen non” ông viết khi du ngoạn vào mùa sen Tây Hồ:

Dìu dịu Lam Điền ngọc mới tương,

Hồ thanh, sắc ánh, mặt dường gương.

Ngọc in làm dáng tiền sơ đúc

Chàm nhuộm nên màu, tán chửa giương

Lạt biếc mới khai mày Thái mẫu,

Thắm hồng còn kín má Vương Tường.

Khách thơ hứng nghĩ hiềm chưa đủ,

Mười trượng hoa thì mười trượng hương.

Sen làm hồ ở Hà Nội trở nên mềm mại hơn, còn hồ như chiếc bình lớn cắm hàng nghìn bông sen làm sen duyên dáng hơn. Từ lâu, Tây Hồ vào mùa sen trở thành nơi tổ chức những cuộc vui thú của vua chúa và giới quí tộc phong kiến. Vua Lê Tương Dực (1509-1516), một ông vua nổi tiếng ăn chơi trong lịch sử quân chủ Việt Nam đã  cho sửa sang hành cung ở hồ Tây làm chỗ nghỉ ngơi. Sách Đại Việt sử ký chép, ông “vua lợn” này bầy ra trò chơi “tiên nữ hái hoa sen”, tức là bắt cung nữ trút bỏ váy áo ở trần giả làm tiên chèo  thuyền hái sen nở để vua xem.

Trong “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ và “Tang thương ngẫu lục” của Nguyễn  Án cùng viết về  thú chơi của chúa Trịnh Sâm trong Trung thu năm 1774: “Ngày hôm đó Chúa ngự trên ly cung Thụy Liên (sen ngủ). Dưới là sen, trên bờ là cây phù dung mắc đèn lồng. Nhạc công hoặc ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hoặc ẩn mình dưới bóng cây, bến đá tấu nhạc”. 

Vì hoa sen đẹp và thơm nên được cắm trong phủ chúa, cung vua. Ở  Nghi Tàm có ngôi miếu ở ven đường gọi là miếu Bà Cô. Tương truyền cô gái họ Đoàn này đi thuyền hái sen dâng lên cung Thụy Liên của chúa Trịnh nhưng chẳng may thuyền bị đắm khiến cô bị chết, dân Nghi Tàm cho là cô chết trẻ nên thiêng đã lập miếu thờ. 

ảnh 2Uống trà sen là thú ẩm thực của người Hà Nội

Sen với đời sống 

Thời Hậu Lê, ở phường Thụy Chương (nay là phường Thụy Khuê), 1 trong 36 phường của kinh thành Thăng Long  có nghề cất rượu sen. Dân ở đây đồ gạo nếp cùng với hạt sen sau đó rắc men và ủ cho ngấu. Rồi họ chỉ lấy “rượu cốt” sau đó pha lẫn với nước đã ướp hương sen với nồng độ vừa phải để thành rượu hương sen. Truyền thuyết kể rằng, rượu Thụy Chương ngon đến mức Phật uống say nên xưa ở đây có chùa Đõ với bức tượng Phật say rất độc đáo.

Nhưng lạ kỳ là rượu sen nấu ở Thụy Chương, song nó lại được bán ở làng bên cạnh là Võng Thị. Các quán rượu ở Võng Thị  chỉ bán vào buổi tối, quán nào cũng có các nghệ nhân hát chèo và ca trù nên thu hút rất đông tửu khách bốn phương. Nửa cuối thế kỷ 18 có hai nhà Nho đến đây uống rượu, thưởng thức tiếng đàn giọng hát đã bật cảm xúc làm thơ. Trần Bá Lãm có bài “Thụy phường liên tửu” (Rượu sen phường Thụy).  

Tiêu hoa đồng diệp thuở xưa truyền

Uống cạn mới hay kém rượu sen

Hoa đẹp nấu thành chum rượu quý

Suối trong chưng cất chất men tiên

Vô mưu túy khách thường đem chĩnh

Quen vị ngư ông vẫn buộc thuyền

Riêng tỉnh có ta hay kẻ khác

Há rằng trong túi có dư tiền

Còn Hương cống Đoàn Nguyễn Tuấn cũng có bài thơ cùng tên. Trong thơ, Đoàn Nguyễn Tuấn cho rằng rượu sen phường Thụy Chương là rượu được dùng để tiến vua, là thứ rượu tiên thơm phức. Rượu này hơn hẳn rượu cúc mà Đào Tiềm (đời Tấn của Trung Hoa) thường thưởng thức khi cáo quan về ở Bành Trạch, hơn hẳn rượu ngâm quả thù du của Đỗ Lăng (Đỗ Phủ) đời Đường. Rượu này đến người sành rượu như Thanh Liên (Lý Bạch đời Đường) cũng phải chống gậy đến mua.

Đất sát Tây Hồ rượu tiến vua

Ngon thay rượu Thụy, rượu Tiên thua

Cất xong nước cốt, ngàn chuông chứa

Thơm phức xôi đồ vạn hộc đưa

Tiêu khiển hứng Bành yêu luống cúc

Bàn suông chuyện Đỗ uống thù du

Rượu Tô nước Tống đều thua kém

Trân trọng Thanh Liên chống gậy mua

Sen không chỉ nấu rượu, người Hà Nội xưa còn lấy nhụy để ướp trà. Còn gì thú hơn khi lòng nhẹ, hồn trong, thong thả nhấm nháp tách trà sen vào buổi sớm. Trong cuốn “Chuyện  cũ bên dòng sông Tô” của Viên Mai Nguyễn Công Chí (chính là gia phả dòng họ Nguyễn Đình ở làng Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội, lập nghiệp ở phố Hàng Ngang từ thế kỷ 17), người họ Nguyễn Đình  nhờ biết cách ướp trà sen nên bán rất chạy, nhờ đó mà giàu có. Cuốn sách cũng cho biết, người Thăng Long không chỉ thích uống trà sen mà còn mua hoa về cắm trong bình gốm. Mùa sen, phố xá thơm lừng vì kìn kìn những gánh sen từ ngoại ô được đưa vào bán. Dân chúng chơi sen cho đến khi hết mùa thì chuyển sang chơi cúc.

Xưa, các làng có sen không bao giờ bán hết hoa, họ dành lại một phần để lấy hạt vì khi tháng ba ngày tám, hạt sen có thể nấu độn với cơm. Hạt sen còn để nấu chè và bán cho các nhà làm mứt. Tâm sen phơi khô để nấu nước chữa chứng mất ngủ rất hiệu nghiệm. Ở  nhiều địa phương, người ta chỉ dùng hạt, củ, tâm sen, nhưng ở Hà Nội cây sen gần như không bỏ đi thứ gì. Đầu mùa thu, dân các làng trồng sen hái lá già bán cho các bà, các cô làng cốm Vòng.

Cốm đầu nia gói trong lá sen già thì không gì bằng vì 2 mùi quyện vào nhau tỏa ra hương thơm thanh dịu trong tiết thu nhạt nắng. Dân làng Tương Mai thường dùng lá sen non gói xôi lúa, xôi không dính lá mà mùi lá thơm kích thích vị giác của người ăn. Với làng chuyên bán cà muối Hạ Đình, khi gánh cà vào phố bán, ban đầu họ gói bằng lá bàng. Nhưng sau bị các bà, các cô chê không đẹp nên chuyển sang gói bằng lá sen, vừa gọn mà nước cà không chảy ra tay. 

ảnh 3Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến

Theo thời gian, nhiều hồ ao bị lấp để mở rộng phố nên sen cũng không còn. Dù sen ít hơn, nhưng người Hà Nội và sen vẫn quấn quýt. Có ông sống ở khu B tập thể Kim Liên yêu sen đến mức căn phòng chỉ có hơn 20m2 nhưng đào hồ nhỏ giữa nhà trồng sen. Để có ánh sáng cho sen phát triển, ông còn thiết kế dàn đèn. Mùa hoa nở, ông ngóng từng ngày, khi những cánh sen mở ra ông bỏ vào đó ít trà rồi gói lại để ướp, rồi pha chè, nhâm nhi ngắm những bông còn lại. Kể cũng lạ. Vào mùa sen nở, những người yêu loài hoa này lên tận hồ Tây, vừa tận hưởng mùi thơm, vừa mua được những bông mà họ cho là đẹp nhất. Tình yêu sen của người Hà Nội thật lạ, lúc nào cũng mong mùa sen.

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top