Sát thủ phòng không tầm thấp Việt Nam Strela-10

0 Nguyễn Ngọc (Tổng hợp)
ANTĐ Do hệ thống phòng không tầm thấp 9K31 Strela-1 bộc lộ rất nhiều điểm yếu trước các phi công Israel trong cuộc chiến tranh Trung Đông lần thứ 4, nên người Liên Xô đã nhanh chóng đưa ra hệ thống phòng không mới để khắc phục những điểm yếu này. Đó là 9K35 Strela-10.

9K31 Strela-1 (Nga: 9К31 «Стрела-1»; NATO: Sa-9 Gaskin) là hệ thống phòng không tìm nhiệt hồng ngoại thế hệ thứ nhất của Liên Xô, bao gồm 4 tên lửa 9M31 được lắp đặt trên khung gầm xe thiết giáp trinh sát BRDM-2, chủ yếu đảm nhận phòng không cấp tiểu đoàn. Các hệ thống này bắt đầu được đưa vào trong biên chế lực lượng lục quân Liên Xô năm 1968.

Mỗi xe được trang bị 4 ống phóng sử dụng tên lửa phòng không dẫn bằng hồng ngoại 9M31, tầm bắn hiệu quả 4,2km, tầm cao 3km, biến thể nâng cấp sử dụng tên lửa 9K31M tầm bắn 5km, tầm cao 3,5km. SA-9 là sự bổ sung hỏa lực phòng không tầm thấp cho các loại pháo phòng không di động ZSU-23.

9K31 Strela-1 có tầm bắn chỉ khoảng 5km, về lí thuyết nó thuộc dạng “bắn - quên” nhưng vì sử dụng đầu dẫn hồng ngoại dùng chì lưu hóa không làm mát, nên khả năng chống nhiễu rất kém. Trong giai đoạn 1 và giai đoạn 2 của chiến tranh Trung Đông lần thứ 4, sự xuất hiện của 9K31 Strela-1 đã làm người Israel thất kinh. 

Nhưng rất nhanh sau đó, các phi công Israel đã nhận ra rằng chỉ cần bay về phía mặt trời là có thể thoát khỏi nó. Ngoài ra Strela-1 cũng không có khả năng khắc chế tên lửa mồi bẫy hồng ngoại. Vì vậy, người Liên Xô đã nhanh chóng đưa ra hệ thống phòng không mới để khắc phục những điểm yếu này. Đó là 9K35 Strela-10.

ảnh 1
Hệ thống phòng không tầm thấp 9K35 Strela-10 Việt Nam khai hỏa. Ảnh: QĐND online


Hệ thống phòng không tầm thấp 9K35 Strela-10 (Nga: 9К35 «Стрела-10», NATO: SA-13 Gopher) do phòng thiết kế cơ khí chính xác Tochmash KB nghiên cứu phát triển từ đầu những năm 1970 để thay thế cho hệ thống 9K31 Strela-1. Tới năm 1976, 9K35 Strela-10 chính thức được chấp nhận đưa vào trang bị. 

Toàn bộ hệ thống được triển khai trên khung gầm xe bọc thép đa dụng bánh xích MT-LB. Trên xe lắp đặt đài radar trinh sát 9S86 được lắp giữa 2 cặp ống phóng tên lửa trên phương tiện phóng khiến nó không cần nhiều khí tài hỗ trợ của các khí tài phụ trợ, radar… cồng kềnh như các tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung và tầm xa.

Hệ thống 9K35 Strela-10 sử dụng đạn tên lửa tìm nhiệt hồng ngoại 9M37 (4 quả trên bệ sẵn sàng bắn và 8 đạn trong thiết bị nạp). Đạn tên lửa 9M37 dài 2,2m, nặng 40kg với đầu đạn nặng 3,5 kg. Tên lửa lắp động cơ đẩy nhiên liệu rắn cho phép đạt tốc độ gần Mach 2, tầm bắn 500-5.000m, độ cao 10-3.500m. Đạn 9M37 được điều khiển bằng đầu tự dẫn sử dụng hai phương pháp dẫn đường. 

Thứ nhất là đầu tự dẫn quang - truyền hình trên tên lửa nhận diện mục tiêu và dẫn đường thụ động cho tên lửa. Thông qua độ tương phản sáng tối của mục tiêu trên nền địa hình, đầu tự dẫn sẽ xác định ánh sáng tương phản bao quanh vùng mục tiêu là màu tối, màu xám trên nền chung và dẫn đường cho tên lửa tấn công. 

ảnh 2
Hệ thống phòng không tầm thấp 9K31 Strela-1


Thứ 2 là dùng đầu tự dẫn hồng ngoại bám theo nguồn nhiệt cao do mục tiêu phát ra. Chính nhờ đầu tự dẫn 2 phương pháp dẫn đường này, mà khả năng chống nhiễu của đạn tên lửa 9M37 được nâng lên 1 bậc, các hệ thống mồi bẫy hồng ngoại không thể làm khó cho nó như đã từng đánh lừa Strela-1. Strela-10 có khả năng tấn công cả máy bay có tốc độ siêu âm, tầm bay thấp rất tốt.

Strela-10 thích hợp làm vũ khí phòng không lục quân, hộ tống các đơn vị chiến đấu để bảo vệ không phận chiến trường. Ngoài ra, phương pháp dẫn đường hiệu quả dựa trên đầu tự dẫn tương phản ảnh và hồng ngoại mang đến cho tổ hợp Strela-10 khả năng tác chiến độc lập rất cao, không cần nhiều khí tài hỗ trợ cồng kềnh như các hệ thống phòng không tầm trung và xa.

Khả năng cơ động cao khiến Strela-10 có thể tung ra những đòn tấn công bất ngờ cho đối phương. Trong cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991, Strela-10 đã chống trả có hiệu quả trước các thủ đoạn chế áp phòng không của đối phương, bắn trúng 27 máy bay, gây thiệt hại đáng kể cho không quân Mỹ. 

Theo số liệu viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockhom (SIPRI), giai đoạn 1985-1986, Việt Nam nhận tổng cộng hàng chục hệ thống tên lửa phòng không loại này, cùng hàng trăm quả đạn tên lửa. Hiện nay, do công tác bảo quản, bảo dưỡng tốt nên các hệ thống này vẫn còn khả năng sử dụng hiệu quả, bảo đảm khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt.

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top