Trên mảnh đất lương thiện

0 Đinh Hương Bình
(ANTĐ) - Đó là một ngày áp Tết năm 1996, một ngày mùa đông nhưng lại le lói một chút nắng, khi đang cải tạo tự giác tại nông trường chè Thanh Hóa thì anh thấy người của Trại Lam Sơn lên gọi về gấp. Không biết có chuyện gì xảy ra, anh quay vào làng bế mấy đứa trẻ, bịn rịn chia tay với bà con chòm xóm quanh nông trường chè, nơi anh đã nhiều năm cải tạo, gắn bó ở đó.

Trên mảnh đất lương thiện

(ANTĐ) - Đó là một ngày áp Tết năm 1996, một ngày mùa đông nhưng lại le lói một chút nắng, khi đang cải tạo tự giác tại nông trường chè Thanh Hóa thì anh thấy người của Trại Lam Sơn lên gọi về gấp. Không biết có chuyện gì xảy ra, anh quay vào làng bế mấy đứa trẻ, bịn rịn chia tay với bà con chòm xóm quanh nông trường chè, nơi anh đã nhiều năm cải tạo, gắn bó ở đó.

Đoạn đường từ nông trường về trại chỉ chừng 3 cây số nhưng sao anh thấy dài như vô tận. Mãi cho đến khi gần đến trại, người ta mới cho biết: “Anh về để lấy giấy ra trại”. Anh đã được đặc xá! Cuối cùng thì cái ngày mà anh thèm khát suốt hàng chục năm trời thụ án đã đến. Từ hôm nay anh đã được tự do về quê và đi trên con đường làng mà không phải chui lủi như một kẻ mang trọng án, một đối tượng truy nã....

Giờ đây anh Quách Hữu Đức đã nhìn thấy những thành quả lao động của mình

Tôi tìm đến ngọn đồi đầy nắng, cái nắng óng ánh vàng ruộm, cái nắng Sơn Tây đặc quánh như mật, như thể được chắt chiu, được vắt ra từ đồng, từ đất. Khác lạ vô cùng với những gì ngột ngạt, bức bối nơi phố xá, những âm thanh được cất lên từ đồng đất, những điều chân thật nhất đã làm cho lòng người dịu lại: Tiếng oàm oạp của nước vỗ bờ, tiếng xào xạc của cây va vào gió, tiếng cá lép nhép, lõm tõm đớp bèo, tiếng lũ gà con chiêm chiếp tìm bầy, tiếng bê non gọi mẹ, và cả tiếng lạo xạo của sỏi đá ong vàng óng dưới chân mình...

Hình như mọi thứ cỏ cây ở đây đều đang khẽ cựa mình cho những mầm sống mới. Nhìn cả một đồi keo tai tượng, chàm, tre đang mọc lên xanh ngút, nhìn những dãy nhà lô nhô quét vôi mới tinh trắng xóa, nhìn những gì đang hiển hiện trên ngọn đồi mênh mang nắng gió này ít ai nghĩ rằng chủ nhân của nó là một tay anh chị đã từng dọc ngang trời đất, với biệt danh “chuyên gia trốn trại”. Đã 7 lần Công an huyện Ba Vì bao vây quanh làng Cam Thượng, nhưng đối tượng truy nã này vẫn thoát, đã 4 lần bị bắt vào trại tạm giam từ Ba Vì, Sơn Tây, cho đến Hỏa Lò - Hà Nội mà vẫn trốn ra được. Không biết bao lần trốn trại, nhưng cũng không biết bao lần tìm cách để trở về với cuộc đời, để được làm người lương thiện, nhưng vẫn không yên thân, rồi lại quay về đường cũ. Con người ấy có tên là Quách Hữu Đức - biệt danh Đức Xoăn ở thôn Cam Thượng, huyện Ba Vì, Hà Tây.

Từ một thanh niên học giỏi của xã Cam Thượng, với nhiệt huyết của tuổi trẻ, Đức xin vào quân đội, đóng quân tại Quân khu Thủ đô, đang chuẩn bị được cử đi học sĩ quan tại Liên Xô thì nhà có chuyện, Đức bỏ quân đội về nhà làm nghề mua bán đồ cũ, xe đạp, rồi lên “chợ Trời” buôn xe máy, dính vào hàng cấm, hàng “nhảy”, rồi cứ thế Đức va đập, chai sạn với giới giang hồ trộm cắp lưu manh. Là một tên lưu manh có học, Đức áp dụng cả kiến thức Hóa học, Vật lý để mở phá khóa, làm vụ nào gọn vụ đấy. Sống trong giới giang hồ trộm cắp, súng đạn sẵn trong người, nhưng Đức chưa bao giờ bắn giết một ai, không nghiện ngập, không cờ bạc nên càng khiến cho “anh em” nể trọng. Đi đến đâu Đức lại “chập” được với “anh em” ở đó, dắt dây, tụm lại rủ nhau gây án trộm cắp các nhà máy, công trường khắp Hà Nội, Sơn Tây, đến Hải Phòng, Thái Nguyên... Nghĩ cuộc đời của một thằng tù tội chẳng còn ý nghĩa, nên càng ngày Đức càng lún sâu vào con đường đen tối ấy.

Từng là một tay anh chị dọc ngang trời đất, với biệt danh “chuyên gia trốn trại”, Quách Hữu Đức - biệt danh Đức Xoăn ở thôn Cam Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội giờ hiền khô. Anh bảo, còn sống ngày nào thì anh còn phải làm hết mình để biến khu đồi này thành một cánh rừng sinh thái. Đó là cách anh “là chính mình” và để không phụ lòng tốt của bao người.

Kiếm tiền tiêu xài, tiêu hết lại kiếm, tiêu tiền không bao giờ phải nghĩ, trả tiền không bao giờ phải chờ người ta trả lại. Nhưng kiếm tiền để làm gì, ăn tiêu mãi rồi cũng chán, có nhiều lúc Đức muốn vứt bỏ tất cả để được tự do. Những lúc bị truy nã lang thang khắp cái đất nước này, Đức thèm khát được làm người lương thiện, thèm khát về nhà để được đi trên con đường làng của mình, được ung dung ngồi uống chén nước chè bên vệ đường mà không phải mắt trước mắt sau lo bị công an theo dõi, rình bắt. Có ngồi tù mới thấy giá trị của tự do, có xa quê thì mới thấm nỗi nhớ quê, có bị mất mát rồi mới thấy tiếc những gì mình đã có. Đức nhớ đến quay quắt, nhớ đến không thể nào chịu nổi mỗi khi hình ảnh cái làng quê nghèo và thời thơ ấu hiện về. Đức nhớ bến nước đầu làng, nhớ cả cái gốc mít. Đức nhớ cả đến những gương mặt mà ở làng trước đây Đức không bao giờ để ý. Có lần nhớ quá, Đức trốn về nhà ăn rằm, thấy thanh niên trong xóm rước đèn, Đức đã trèo lên trên mái nhà để ngồi nhìn xa xa về phía họ.

Cũng đã vài lần Đức giấu đi quá khứ của mình xin vào làm bảo vệ nông trường dứa, làm bảo vệ công trình đô thị (Thành cổ Sơn Tây bây giờ) định vài năm rồi về đi học, nhưng rồi lại bị lùng bắt vì công an bắt một số đối tượng khác, phát hiện ra tang vật có liên quan đến Đức. Bắt rồi trốn, trốn rồi lại khao khát được trở về. Sau này có lúc nghĩ lại, âu cũng là cái giá phải trả cho cuộc đời, có lẽ rằng chưa chịu án, chưa trả nợ đời thì cũng chưa tìm thấy được đường về...


Dáng gầy khòng khòng, mảnh khảnh, đôi mắt nâu sâu trũng, mái tóc xoăn giờ đã lốm đốm sợi bạc, trông anh có vẻ thư sinh hơn là một tay giang hồ khét tiếng. Đôi bàn tay với những ngón dài, lẽ ra là của một người cầm bút, chứ không phải đôi bàn tay của một tên trộm có biệt tài phá khóa. Câu đầu tiên anh nói đi nói lại khi gặp tôi rằng: “Đừng viết về tôi làm gì, đừng nói về tôi làm gì. Tôi không muốn khơi lại cái quãng thời gian đen tối ấy nữa. Tôi làm tất cả mọi thứ bây giờ cũng là để tồn tại như một người bình thường thôi, tôi chỉ đi tìm chính tôi. “Tôi đã là chính tôi” - chỉ một câu nói ấy thôi mà biết bao nhiêu năm nay anh mới tìm lại được nó, bao nhiêu năm trầy trật, đấu tranh với chính bản thân mình chỉ để được trở lại là chính mình. Nếu như trước đây bỏ nhà ra đi, lao vào giới giang hồ, anh không một phút giây suy nghĩ, đấu tranh, thì bây giờ để trở thành người lương thiện anh đã phải giằng xé, kìm nén rất nhiều. Thậm chí có những lúc anh tưởng như không vượt qua được cái lằn ranh mong manh ấy, anh phải thờ chữ “Nhẫn” trong nhà  là vì thế.

Về quê rồi, nhưng “anh em” giang hồ thỉnh thoảng vẫn tìm đến gặp gỡ, người đến thăm anh cũng có, người đến lôi kéo rủ rê cũng có. Theo họ ư, quay lại đường cũ ư? Anh sẽ có tội với những người đã giúp đỡ động viên mình. Khi anh trở về đã có gia đình, có dân làng, bè bạn, đặc biệt là các anh công an đã động viên anh rất nhiều. Từ trưởng công an huyện đến công an xã, trong cái ngày anh tự do được trở về làng họ cũng có mặt. Trong ngày anh đưa chị từ nông trường chè về làm lễ cưới, họ cũng đến chia vui. Trong con mắt của họ, anh không còn là một người tù mang án nữa, anh đã là một công dân, một người con của Cam Thượng, vậy sao nỡ phụ lòng họ. Rồi còn vợ anh, chị Đào Thị Hương mà anh thương yêu khi cải tạo ở Nông trường Thanh Hóa. Chuyện chị đến với anh cũng là cả một sự hy sinh, gia đình chị giao gả con gái mình cho anh cũng chỉ hiểu anh vì thương anh. Bây giờ anh nỡ phụ sao? Và cái thiện đã thắng.

Cũng vì những lúc đấu tranh giằng xé của chính bản thân mình mà anh thấu hiểu được làm người khó thế, vì sao mà tỷ lệ người tù tái phạm vẫn cao như thế. Không phải những người phạm tội đều là những người xấu, mà hầu hết bản chất của họ là lương thiện, họ phạm tội có thể nhất thời, có thể do bột phát. Nói cho đến cùng kể cả tướng cướp, kẻ khát máu đến đâu vẫn thèm khát lương thiện, trong lòng họ vẫn có chỗ cho sự lương thiện, trong tim họ vẫn có chỗ để thức tỉnh. Sau khi ra tù, anh cũng là người chứng kiến nhiều người như anh quay lại con đường cũ. Và anh cũng chính là người đã giúp đỡ họ làm ăn lương thiện. Anh đã từng đứng ra bảo lãnh cho một số đối tượng, xin việc cho họ làm, giới thiệu họ mua đất làm trang trại như anh, và bây giờ cũng đã có những cặp vợ chồng đang hạnh phúc làm ăn trên mảnh đất phục thiện. Trong trang trại của anh cũng có tới chục người làm, trong đó có cả những đứa trẻ có hoàn cảnh bất hạnh, cũng có cả những đứa trẻ bố mẹ chúng tin tưởng gửi cho anh...

Từ một người tiêu tiền không tiếc tay, mà bây giờ trở về đã có những ngày tháng anh đạp xe đi khắp làng trên xóm dưới để bán từng miếng đậu phụ, mỗi miếng đậu như vậy anh chỉ được lãi 100 đồng vậy mà sao thấy sung sướng. Tích cóp dần dần, bán lứa lợn, mua được cái xe máy, rồi mua được mảnh đất... Rồi đến lúc xã có chính sách dồn điền đổi thửa, chớp cơ hội này anh đã đến từng nhà có ruộng, vận động 180 hộ để mua lại cả một quả đồi rộng hàng chục hecta.

Từ một đồi trọc khô cằn, từ cánh đầm trũng nước, anh thuê máy xúc đắp đường, đào ao, rồi cùng với anh em chung vốn đầu tư nuôi lợn, khu trại lợn thịt  bây giờ là 2.500 con, trại lợn nái 80 con, 10ha hồ cá của anh vào lúc thu hoạch có ngày lên tới hơn 1 tấn cá, ba, bốn chục người đưa cá cung cấp cho thành phố. Quả đồi khô cằn ấy đã phủ một màu xanh ngút mắt, đã có người trả anh tới chục tỷ đồng nhưng anh không bán. Còn sống ngày nào thì anh còn phải làm. Ước muốn của anh là biến khu đồi này thành một cánh rừng sinh thái để tạo môi trường không khí cho thành phố Sơn Tây. 

Cuộc đời anh lẽ ra đã đi con đường khác, lẽ ra anh đã làm được điều gì đó cho quê hương, cho gia đình, nhưng anh không làm được. Nên bây giờ anh muốn làm tất cả cũng là vì lẽ ấy. Anh nói rằng anh sẽ xây một ngôi nhà bằng đá ong trên khu đồi này, anh sẽ trồng thêm thật nhiều cây chàm nữa. Rồi mai đây rừng chàm sẽ lên xanh!

Đinh Hương Bình

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top