Ông giáo làng và vườn cò lớn nhất nước

0 Thanh Hoàn
(ANTĐ) - Giữa màu xanh bạt ngàn cây cối của những quả đồi nối tiếp thuộc thôn Tân Phúc, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, có một khu vườn dường như không nhìn thấy màu xanh mỗi khi chiều về, mà chỉ toàn một màu trắng.

Ông giáo làng và vườn cò lớn nhất nước

(ANTĐ) - Giữa màu xanh bạt ngàn cây cối của những quả đồi nối tiếp thuộc thôn Tân Phúc, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, có một khu vườn dường như không nhìn thấy màu xanh mỗi khi chiều về, mà chỉ toàn một màu trắng.

Đó là nơi cư trú của hơn 10.000 chú cò và khoảng 2.000-3.000 chú vạc suốt hơn 20 năm qua. Khu vườn đó của gia đình ông giáo về hưu Đặng Đình Quyển - gia đình có công bảo vệ vườn cò suốt từ những năm 80 của thế kỷ trước đến nay. Trong bối cảnh việc bảo vệ động vật hoang dã trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết, vườn cò nhà ông Quyển cũng phải đương đầu với nỗi lo để có thể bảo vệ được một trong những đàn cò lớn nhất cả nước này.

“Khu tập thể” của loài chim

Một giống cò tại vườn của ông Quyển

Theo lời kể của ông Quyển thì vào năm 1982, khu vườn trồng tre, trám trước cửa nhà ông bỗng dưng có khoảng 500-600 con cò, vạc kéo về  trú ngụ, và số cò, vạc về ngày càng đông. Ông vận động gia đình trồng thêm cây xanh, tạo môi trường cho cò trú ngụ. Cứ như vậy, hiện vườn cò nhà ông đã có hơn một vạn con với các loại: cò bi, cò ruồi, cò ngành nhỏ, vịt trời, cò đen, vạc… sống trên đồi bạch đàn diện tích hơn 2ha. Mỗi con nặng từ 400 gam - 800 gam. Thỉnh thoảng, bồ nông cũng kéo đến tụ họp, vườn cò của gia đình ông Quyển trở thành “khu tập thể” của loài chim.

Xung quanh khu vườn là những đồi vải, bạch đàn, keo… liên tiếp nhưng thật lạ, cò chỉ ở trong vườn nhà ông Quyển mà không đậu sang bất kỳ ngọn cây nào của nhà bên cạnh ngay cả khi bờ rào ranh giới của nhà ông với hàng xóm chưa được dựng lên. Cò ở một phía vườn, vạc ở một phía vườn. Mùa sinh sản của cò từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm. Do diện tích của vườn cây nhà ông Quyển có hạn nên đến thời điểm này, một nửa số cò lại di trú lên khu vực Hố Cao (xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang) để sinh sản. Hết mùa, cò lại kéo về nhiều hơn lúc đi, nhất là vào mùa đông. Mỗi cây bạch đàn cao hàng chục mét trong vườn có 6-7 tổ cò. Sáng ra, đàn cò rủ nhau đi kiếm ăn chiều tối lại kéo nhau về.

Trò chuyện về vườn cò, ông Quyển cho biết: “Trước cửa nhà tôi có hồ 7 mẫu, cạnh bờ hồ là rặng tre, rặng trám xanh tốt nên cò đến ở. Lâu rồi thành quen nên chúng kéo đến ngày một nhiều hơn. Có lần, hai con cò khi đi kiếm ăn bị dính bẫy dây keo, chúng mang cả đôi cánh bị dính về đậu trên vườn bạch đàn. Do bị dính keo nên hai chú cò cố đập cánh gỡ ra, cả đàn cò vài nghìn con sợ quá bỏ đi. Vườn nhà tôi vắng tanh. Hơn một tháng sau, đàn cò lại từ đâu trở về đông đủ và sinh sống như đã quen thuộc quá với khu vườn này”. Theo ông Quyển, cò tìm về với ông có lẽ vì ông bảo vệ chúng khỏi những kẻ săn bắn trộm. Cò tìm đến người là vì vậy nhưng chúng cũng gây không ít phiền toái cho gia đình ông giáo làng suốt mấy chục năm qua.

Và những câu chuyện thú vị từ vườn chim

Đường vào vườn cò

Gắn bó với vườn cò hơn 20 năm qua, ông Quyển tích lũy rất nhiều câu chuyện thú vị về đàn cò. Ông kể chuyện về cò như đang kể về những người bạn tri kỷ của mình: “Có hôm tôi thấy một đôi vợ chồng cò bẻ cành cây làm tổ đẻ, một đôi vợ chồng cò trẻ khác đứng gần quan sát. Làm xong tổ, đôi kia đi kiếm ăn, thế là đôi cò trẻ ở lại, chồng cắp rác bên tổ cò vừa xây, vợ đan tổ ở một chỗ khác để đẻ. Chúng cũng “gian” phết đấy…”. Theo ông, vạc không bao giờ nhầm lẫn tổ của nhau khi đi kiếm ăn về, nhưng cò thì ngày nào cũng mất nửa tiếng “cãi nhau điếc cả tai” vì nhầm tổ, đánh nhau, cãi nhau kịch liệt.

Rồi ông bật mí: “Này, cò cũng như người ấy. Chúng đi ăn có một con đứng để quan sát kẻ địch, báo hiệu cho cả đàn. Còn khi đi ăn về, đàn về đầu tiên bao giờ cũng chưa đậu ngay xuống ngọn cây mà chúng còn chao lượn xem xét tình hình mãi mới đỗ. Nhưng những đàn sau thì cứ thế sà thẳng xuống. Mà cò vạc bay theo hình chữ V, hình cánh cung cũng là vì có con đầu đàn “chỉ huy” đấy”.

Ông kể say mê, vui vẻ và thư thái, còn chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi được nghe giống như những câu chuyện cổ tích,  nhưng lại rất đời thường. Vừa nghe ông giáo làng kể chuyện, vừa ngẫm, câu chuyện ông kể về đàn cò đâu có gì mới lạ, ai cũng có thể nhìn thấy đàn cò bay hình chữ V, hình cánh cung nhưng có mấy ai để tâm đến và đặt câu hỏi vì sao, chúng lại bay như thế để lý giải. Chắc chỉ có ông Quyển, người sống “tình nghĩa” với đàn cò mới đi tìm và lý giải thấu đáo như vậy.

Kể xong những câu chuyện “bí mật”, ông Quyển cất tiếng gọi to “Cò…ò”, hàng chục con cò từ những ngọn cây gần đó bay về, chao liệng và đậu xuống ngọn bạch đàn rào rào. Chúng cũng cất tiếng gọi bầy và đập cánh làm lá bạch đàn rụng rơi lả tả. Ông Quyển bảo: “Đấy, thế này thì cây nào sống nổi với chúng? Tôi gọi chúng về để các anh chị được chứng kiến chúng tranh nhau tổ”.

Lần đầu tiên, chúng tôi được thấy nhiều cò đến thế. Con nào lông cũng trắng như bông tuyết. Ông Quyển chỉ từng con, con to không phải là cò già, con nhỏ kia không phải là cò mới được sinh ra. Nghe ông Quyển giải thích, chúng tôi hình dung đến những chú cò bố mẹ và cò con cũng giống như con người vậy. Đứa trẻ nào mới sinh ra cũng bụ bẫm và đáng yêu, còn người cha người mẹ nào cũng vì những năm tháng hy sinh nhọc nhằn cho con cái mà gầy mòn, mà già nua. Lần đầu tiên, giá trị nhân văn của những câu ca dao ví von con cò với hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam trở nên ý nghĩa và thấm thía nhường ấy, nhờ những câu chuyện kể thú vị nhưng sâu sắc của ông giáo làng Đặng Đình Quyển.

(Còn nữa)

Thanh Hoàn

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top