Kỳ 2: Cuộc sống nơi huyện đảo

0 (Còn nữa)
(ANTĐ) - Những bờ cát trắng trải dài, những rừng xanh tươi của cây cối, những nụ cười, những câu chào hỏi của bé thơ khi gặp đã mang lại cho tôi cảm giác thân thiện, gần gũi với thiên nhiên và cư dân sinh sống nơi đây.

Hành trình Bạch Long Vĩ:

Kỳ 2: Cuộc sống nơi huyện đảo

(ANTĐ) - Những bờ cát trắng trải dài, những rừng xanh tươi của cây cối, những nụ cười, những câu chào hỏi của bé thơ khi gặp đã mang lại cho tôi cảm giác thân thiện, gần gũi với thiên nhiên và cư dân sinh sống nơi đây.

>>> Đường đến huyện đảo xa xôi

Niềm vui của ngư dân

Quà tặng của biển cả

Huyện đảo Bạch Long Vĩ có diện tích đất tự nhiên không lớn nhưng có một vị trí chiến lược và tầm quan trọng đặc biệt đối với việc đảm bảo chủ quyền quốc gia trên biển, quốc phòng an ninh. Khả năng phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo là rất lớn do có lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ đáng kể và tài nguyên vùng biển bao quanh giàu có. Trò chuyện với tôi, Phó Chủ tịch huyện đảo Phạm Nguyên Nhung cho biết, ngư trường Bạch Long Vĩ rộng khoảng 1.500 hải lý vuông, là một trong những ngư trường tốt nhất Vịnh Bắc bộ.

Theo tính toán, ngư trường Bạch Long Vĩ có thể khai thác rất nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao với mật độ và sản lượng đánh bắt đạt 250kg/h. Những nhóm cá chủ yếu mà ngư dân ta khai thác là cá nổi, cá tầng đáy, cá đáy và cá san hô. Trữ lượng khai thác chính tập trung vào nhóm cá đáy khoảng trên 60 nghìn tấn và cá nổi khoảng trên 12 nghìn tấn.

Các loại cá đặc biệt có giá trị cao ở Bạch Long Vĩ rất phong phú về chủng loại: cá trích, cá mối, cá song, cá mú, cá khế, cá thu ngừ... và mùa vụ khai thác gần như quanh năm nên đã thu hút rất nhiều tàu thuyền đánh cá từ các tỉnh khác tập trung đến đây để đánh bắt, vào mùa vụ chính số lượng tàu thuyền lên đến hàng nghìn chiếc. Huyện đảo đã được thành lập hơn 16 năm. Từ một hải đảo quân sự, dần dần đảo Bạch Long Vĩ đã “chuyển mình” thành một huyện đảo có dân cư sinh sống.

Từ những năm đầu tiên thành lập huyện đảo, 62 thanh niên xung phong cùng một số hộ ngư dân đã quyết tâm ra đảo xây dựng cuộc sống mới. Cùng với các cán bộ chiến sỹ bộ đội bảo vệ đảo, họ đã đổ biết bao mồ hôi, xương máu để mở ra những con đường xuyên suốt huyện đảo, xây dựng những ngôi nhà để Bạch Long Vĩ có được vẻ khang trang và phát triển như hôm nay.

Tôi đến thăm nhà ngư dân Nguyễn Đức Vịnh, một trong những gia đình ngư dân sống từ những năm đầu tiên khi xây dựng huyện đảo. Đến đúng bữa cơm trưa, anh nhiệt tình mời tôi ở lại dùng bữa cơm ấm cúng cùng gia đình. Trước đây anh sống tại một huyện nghèo của thành phố Hải Phòng. Lấy vợ và sinh con, cuộc sống của anh túng bấn hơn. Nghề nghiệp chưa ổn định, cuộc sống ngày càng khó khăn, vất vả hơn khi vợ chồng anh có thêm con.

Cuối năm 1997, biết tin huyện đảo Bạch Long Vĩ kêu gọi thanh niên xung phong và ngư dân tình nguyện xây dựng cuộc sống mới, anh chị  quyết tâm ra đảo. Những ngày đầu định cư, mọi thứ đối với anh chị còn rất xa lạ và khó khăn. Để có cuộc sống đầy đủ như ngày hôm nay, trải qua 16 năm trên đảo anh chị đã phải nỗ lực và trả giá bằng mồ hôi và những giọt nước mắt. “Người dân huyện đảo bây giờ không có hộ nghèo, nhà báo ạ.

Nhà ai cũng có tivi, điện thoại và những đồ dùng sinh hoạt giống như trong đất liền. Nhà tôi chuyên tâm làm ngư nghiệp nên bây giờ cũng đã ổn định. Tôi đang để dành tiền mua thêm một chiếc tàu đánh cá nữa” - nói về những dự định và hoài bão mắt anh như ánh lên niềm vui và hi vọng, tôi biết trong thâm tâm anh đã coi Bạch Long Vĩ là quê hương thứ hai của mình.

Những khó khăn thường ngày

Tại huyện đảo Bạch Long Vĩ, nếu muốn có nguồn nước ngọt phải khoan sâu hàng chục mét xuống dưới thềm lục địa thì mới lấy được mạch nước ngầm. Nhưng do chưa có đầu tư nên nước sinh hoạt hàng ngày của mọi người trên đảo vẫn phải được tích trữ từ nước mưa và lượng nước thẩm thấu.

Mùa mưa còn tạm đủ nước sinh hoạt nhưng mùa hanh khô thì nước ngọt trên đảo rất hiếm, nước sinh hoạt phải được tận dụng hết mức. Ngay cả chậu nước rửa mặt của tôi hàng ngày cũng được mọi người nhắc phải giữ lại để....tưới rau. Điện cũng là một vấn đề khó khăn mặc dù trước đây, người dân trên đảo đã từng được sử dụng một hệ thống phong điện tiên tiến trên thế giới đầu tiên tại Việt Nam.

Do sự cố kỹ thuật, trạm phong điện với sức cung cấp dư thừa cho đảo đã phải tạm dừng hoạt động. Điện trên đảo bây giờ được cung cấp bằng 2 chiếc máy phát điện, một trong số đó đang bị hỏng nên nguồn điện cung cấp cũng rất hạn chế chỉ từ chiều đến đêm.

Nhưng vấn đề khó khăn lớn nhất mà người dân huyện đảo còn gặp phải đó chính là việc đi lại từ huyện đảo về đất liền. Tàu được phép chở khách duy nhất ra đảo là chuyến tàu Bạch Long (chuyến tàu mà tôi đăng ký ra đảo); không có lịch chạy tàu cụ thể, lại thường xuyên hoãn do thời tiết xấu. Nhiều khi có việc gấp tại đất liền thì từ người dân và cả các cán bộ chiến sĩ trên đảo chỉ có thể đi lại nhờ tàu thu mua cá. Với những chiếc tàu không có phao cứu sinh, không được phép chở người khiến không ít vụ tai nạn đáng tiếc trên biển đã xảy ra.

Cư dân huyện đảo vẫn không thể nào quên một tai nạn khủng khiếp cách đây không lâu: Một chiếc tàu thu mua cá trên đường về đất liền do biển động, tầm quan sát kém đã đâm trực diện vào một tàu khác, chìm ngay tại chỗ! Còn rất nhiều những vụ tai nạn thương tâm khác trên biển do tàu không đủ khả năng chở người gây ra. Nhưng không đi bằng tàu thu mua cá thì người dân tại huyện đảo không biết bằng cách nào để về đất liền?

Trăn trở đó không chỉ của người dân mà của cả những cán bộ chiến sỹ đang công tác trên đảo “Nếu việc đi lại, thông thương giữa đất liền và hải đảo được quan tâm, chắc chắn huyện đảo sẽ phát triển hơn nữa về nhiều mặt” - đồng chí Phạm Nguyên Nhung trước khi tiễn tôi về đã nói vậy.

Mải mê suy ngẫm về cuộc sống hiện tại của người dân huyện đảo, bỗng dòng suy nghĩ của tôi bị cắt ngang - “Cháu chào chú nhà báo!” Một cháu bé nở nụ cười tươi và chào tôi rất to khi nhìn thấy tôi trên đường. “Cháu ngoan lắm, cháu học lớp mấy rồi?” “Cháu học lớp 4 ạ!”. “Thế lớp cháu có đông các bạn không?”. “Lớp cháu đông ạ, khoảng... 10 bạn”. Tôi ngạc nhiên: “10 bạn mà cháu nói là đông?”. “Vì trường cháu ít học sinh lắm chú ạ, lớp cháu còn đông chứ lớp khác chỉ có... 2 bạn thôi”.

Nghe thấy vậy, tôi liền nhờ cậu bé dẫn sang trường học duy nhất trên huyện đảo vừa dạy cấp 1 và kiêm cả trường... mầm non. Trên đường đi, cháu bé thao thao kể về ngôi trường. Qua câu chuyện tôi dần hiểu ra đôi phần  khó khăn trong công tác giáo dục tại huyện đảo.

Do tính đặc thù dân cư thưa thớt nên cả huyện đảo chỉ có duy nhất một trường cấp 1. Còn học lên cấp 2 và cấp 3 thì các gia đình trên đảo phải đưa con em mình ra học tại trường nội trú Đồ Sơn. Chính vì vậy nên nhiều gia đình trên đảo có con đi học đã gửi về đất liền để học ngay từ cấp 1 để có bài bản hơn nên trường học càng thiếu vắng học sinh hơn.

Đưa tôi vào lớp học chỉ có vài học sinh để chứng minh cho lời nói của mình, cậu bé nắm chặt tay tôi: “Bố mẹ cháu bảo, học hết lớp 4 ở đây rồi chuyển ra đất liền để học tốt hơn. Nhưng cháu lại không thích đi học xa...”. Ngắm ngôi trường khang trang, rộng rãi nhưng vắng vẻ, tôi bỗng cảm thấy bùi ngùi về những khó khăn của người dân trên con đường phát triển và ổn định trên huyện đảo.                                  

(Còn nữa)

Nguyễn Hiếu

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top