Hội ngộ dòng tộc sau 500 năm

0 Trần Duy Hiển
(ANTĐ) - Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải mấy nghìn năm, có một phần quan trọng gắn liền với những cuộc thiên di của lớp người “mang gươm đi mở cõi”. Nước Nam ta trải dài từ mục Nam Quan tới mũi Cà Mau, mỗi con dân Đất Việt dù đi đâu, ở đâu đều tự hào về dòng dõi “Con Lạc, cháu Hồng”, cùng một Mẹ Âu Cơ. Cũng bởi vậy mà những người con ra đi mở nước, lòng luôn nhớ về cội nguồn quê Cha đất Tổ…

Hội ngộ dòng tộc sau 500 năm

(ANTĐ) - Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải mấy nghìn năm, có một phần quan trọng gắn liền với những cuộc thiên di của lớp người “mang gươm đi mở cõi”. Nước Nam ta trải dài từ mục Nam Quan tới mũi Cà Mau, mỗi con dân Đất Việt dù đi đâu, ở đâu đều tự hào về dòng dõi “Con Lạc, cháu Hồng”, cùng một Mẹ Âu Cơ. Cũng bởi vậy mà những người con ra đi mở nước, lòng luôn nhớ về cội nguồn quê Cha đất Tổ…

Trong Đại Việt sử ký...

Vào thế kỉ XV, bờ cõi phía nam đất nước ta liên tục bị quân Chiêm Thành quấy nhiễu, xâm lấn. Vua Lê Thánh Tông đã thân chinh cầm quân bình Chiêm và thu được thắng lợi to lớn.

Đại Việt sử ký Toàn thư có chép rằng: Ngày 15 tháng 3 Tân Mão (1471), “Vua đã dẹp được Chiêm Thành, bắt sống Trà Toàn, bèn tự mình viết bài Chiếu báo tin thắng trận, sai quân mang về kinh sư bố cáo thiên hạ biết”.

Chiến thắng đó đã thu được nhiều kết quả và ý nghĩa: “Vì Vua đã dẹp được Chiêm Thành, uy danh chấn động khắp chốn, cho nên các nước phiên thuộc ở phía tây đều lật đật kẻ trước người sau tranh nhau đến cống”. Và, để khẳng định quyền lực Thiên tử và quản lí vùng đất mới, Lê Thánh Tông đã: “Tháng 6, lấy đất Chiêm Thành đặt làm Thừa tuyên Quảng Nam”.

Trong số những quan quân theo Vua nam tiến, có một vị tên Nguyễn Phú Văn, hiệu là Nguyễn Tôn Công, tòng quân dưới triều Hậu Lê năm Quang Thuận thứ 6 (1465), được phái vào đồn trấn tại Thanh Hóa. Khoảng đầu những năm Hồng Đức, Nguyễn Phú Văn lãnh chiếu tiên phong đem quân chiếm cứ phía nam đèo Hải Vân, dọn đường để Vua Lê Thánh Tông thân chinh dẹp giặc.

Khi quan quân Đại Việt ca khúc khải hoàn, ngài Nguyễn Phú Văn đã ở lại và đưa dân vào định cư, khai khẩn vùng đất mới; sau lại đưa cả gia quyến vào đây, khai sinh tộc Nguyễn Phú tại xứ Phổ Nê, huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, nay thuộc làng Yến Nê, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (sau đây gọi là tộc Nguyễn Phú Yến Nê).

Cụ Nguyễn Bá Bảo (người thắt cà vạt), đại diện tộc Nguyễn Phú Lại Đà dự giỗ tổ tộc Nguyễn Phú Yến Nê (Hòa Vang - Đà Nẵng)

Chọn ngày giỗ của dòng tộc

Theo tộc phả Nguyễn Phú Yến Nê, do cháu 4 đời của Ngài Nguyễn Phú Văn lập năm 1619, vì lớp cha ông đã quá cố không có di bút để lại, chẳng ai biết tiền tổ cội nguồn, nên chỉ ghi từ Ngài Nguyễn Phú Văn về sau, và lấy địa danh Kinh Kỳ (Thăng Long), nơi Ngài lãnh chiếu vào Nam dẹp giặc, là nguyên quán, đồng thời suy tôn Ngài Nguyễn Phú Văn là Thủy tổ tộc Nguyễn Phú Yến Nê. Tộc phả có ghi lại di chúc của vị Thủy tổ, rằng: Ta quê ở Kinh Bắc, đầu quân tại Thăng Long rồi vào trấn thủ Thanh Hóa, lại được theo Vua bình Chiêm.

Sau này con cháu đời đời phải tìm về quê hương, bản quán bái yết liệt tổ, liệt tông… Và cũng từ năm 1619, tộc Nguyễn Phú Yến Nê lấy ngày 22 tháng 2 âm lịch hằng năm là ngày giỗ của dòng tộc.

Trải qua 5 thế kỉ, tộc Nguyễn Phú Yến Nê đến nay là đời thứ 16, số đinh hiện có trên 300 (chưa kể số vị thành niên). Tộc Nguyễn Phú Yến Nê có truyền thống hiếu học, đặc biệt trong thời hiện đại có nhiều đóng góp với cách mạng.

Trong 5 thế kỉ, con cháu trong họ luôn tưởng nhớ và nhiều lần cất công tìm lại nguyên quán, đặng thắp nén hương thơm tưởng nhớ công đức liệt tổ liệt tông, như ước nguyện của vị Thủy tổ Nguyễn Phú Văn. Nhưng mọi sự tìm kiếm đều trở nên vô vọng, trong lúc lịch sử đất nước thăng trầm với bao vật đổi sao dời.

Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, không ít lần, các bậc cao niên tộc Nguyễn Phú Yến Nê đã ra đất Bắc, dò hỏi lần tìm. Hễ có manh mối nào, lại viết thư, gọi điện hỏi thăm.

Rồi vài lần cũng lóe lên tia hi vọng. Có người quê đất Bắc mang tên Nguyễn Phú Bình, nhưng khi được hỏi mới hay, tên đó do cha mẹ quê Phú Thọ đặt khi đi kháng chiến, lấy chữ Phú làm đệm để tưởng nhớ quê hương.

Đại diện tộc Nguyễn Phú Yến Nê dâng hương tưởng nhớ cội nguồn tại nhà thờ tổ tộc Nguyễn Phú Lại Đà (Đông Anh - Hà Nội)

Bản minh định 2 tộc Nguyễn Phú

Trong lúc các thế hệ tộc Nguyễn Phú Yến Nê kiên trì tìm về quê hương bản quán thì ở làng Lại Đà ven sông Đuống (nay thuộc xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội), cũng có một tộc Nguyễn Phú (sau đây gọi là tộc Nguyễn Phú Lại Đà).

Theo gia phả tộc Nguyễn Phú Lại Đà, tổ tiên của tộc này đến vùng Cối Giang lập nghiệp từ trước thế kỉ XIII cùng với khởi thủy của 3 tộc Ngô, Vương, Lương hợp thành “Tứ gia Tiên tổ” làng Lại Đà, vốn thuộc tổng Cối Giang, huyện Đông Ngàn, lộ Bắc Giang (địa danh có từ đời Trần). Đình làng này thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền do Vua Trần Thánh Tông sắc phong năm 1276 làm Thành hoàng làng Lại Đà. 

Nhưng trải bao vật đổi sao dời, tộc phả Nguyễn Phú ở Cối Giang bị thất truyền. Cho mãi đến thế kỉ XVII, cụ Phúc Chân (chữ Phúc là mỹ từ tôn kính tiền nhân, còn danh tộc vẫn là Nguyễn Phú) là cháu 5 đời của cụ Phúc Tiên mới tái lập tộc phả Nguyễn Phú Lại Đà, và chỉ chép từ đời cụ Nguyễn Phúc Tiên về sau.

Các thế hệ tiền tổ (viễn tổ) từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XV bị thất truyền, nên trong phổ hệ ghi “bất kí viễn tổ, mộ táng tại Mả Cát đã thất lạc”, và suy tôn cụ Nguyễn Phúc Tiên là Thủy tổ, mộ táng tại gò Cái Đàn, ngày giỗ là 14 tháng Chạp. Vào đời Tự Đức, một chi trong tộc Nguyễn Phú Lại Đà làm nghề hát “ả đào”, còn gọi là Ca trù.

Theo quy định của thời phong kiến, họ nào có người hành nghề này thì người trong họ không được đi thi Hương, thi Hội; nên một chi đã đổi Nguyễn Phú là Nguyễn Bá, đặng theo đường khoa cử, song thực chất vẫn thuộc tộc Nguyễn Phú Lại Đà. 

Năm 1965, tộc Nguyễn Phú Lại Đà di dời mộ Tổ từ gò Cái Đàn về gò Chữ Thượng, phát hiện thấy trong tiểu gỗ vàng tâm hài cốt đã hóa hết, chỉ còn một số đồ tuỳ táng như tiền kẽm, một chiếc hốt bằng đồng.

Qua đó, con cháu suy đoán Ngài Nguyễn Phúc Tiên là người có vị trí, danh vọng xã hội nhất định, lại có bà Tổ cô (theo tộc phả chép) là em (hoặc chị) làm Nội thị cung tần, nên có thể Ngài từng cư ngụ ở Kinh kỳ, lúc tuổi già về quê tĩnh dưỡng và mệnh chung tại bản quán.

Tính từ Ngài Nguyễn Phúc Tiên, tộc Nguyễn Phú Lại Đà đến nay là 14 đời, là một tộc lớn đông dân đứng trọn 1 trong 7 giáp của Lại Đà, có truyền thống khoa bảng và thành đạt.

Vì những thăng trầm lịch sử, thiên tai địch họa, tộc phả Nguyễn Phú Lại Đà lập vào thế kỉ XVII không có điều kiện đề cập hết các thế hệ trong tộc từ thế kỉ XIII và cũng không nhắc tới người con nào ở thế kỉ XV đã Nam tiến rồi lưu lại lập nghiệp. Song qua bản tộc phả này, đã khẳng định: khắp vùng Kinh Bắc chỉ duy nhất ở Lại Đà có tộc Nguyễn Phú.

Ngày nay con cháu tộc Nguyễn Phú Lại Đà đã định cư ở nhiều nơi, kể cả ở nước ngoài, nhưng đều coi nguyên quán, Thủy tổ của mình ở Lại Đà và hằng năm cứ đến 14 tháng Chạp thì tìm về quê hương giỗ tổ.

Nhờ hồng phúc tiên tổ, tấm lòng của những người con hai tộc Nguyễn Phú Lại Đà và Nguyễn Phú Yến Nê đã thấu tận trời xanh. Năm 1996, tại làng Yến Nê, các bậc cao niên của tộc Nguyễn Phú Yến Nê trong đó có hai cụ Nguyễn Phú Nam và Nguyễn Phú Lại, là những bậc túc nho khi coi truyền hình, thấy xuất hiện trong chương trình thời sự đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, mang họ và tên đệm “Nguyễn Phú”.

Các cụ trong tộc Nguyễn Phú Yến Nê mừng lắm, bèn gọi điện thoại ra Tòa soạn Tạp chí Cộng sản, hỏi thăm về họ Nguyễn Phú ngoài Bắc. Các cụ đã nhận được câu trả lời chân tình và sự giới thiệu về tộc Nguyễn Phú ở Lại Đà, Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội...

Sau sự kiện này không lâu, một đoàn đại biểu tộc Nguyễn Phú Yến Nê gồm hai cụ Nguyễn Phú Nam và Nguyễn Phú Lại dẫn đầu, ra đất Bắc tìm về tộc Nguyễn Phú Lại Đà. Ngày 5-6-1996, tộc Nguyễn Phú Lại Đà khá bất ngờ khi được đón tiếp những đại biểu tộc Nguyễn Phú Yến Nê.

Dù chưa khẳng định cây chung một cội nhưng tộc Nguyễn Phú Lại Đà rất xúc động, chân thành khoản đãi và đưa các đại biểu tộc Nguyễn Phú Yến Nê ra thắp hương tại nhà thờ tổ.

Từ đây, năm nào hai tộc Nguyễn Phú Lại Đà và Nguyễn Phú Yến Nê cũng đi lại thăm hỏi nhau. Tộc Nguyễn Phú Yến Nê ra Bắc dự giỗ tổ tộc Nguyễn Phú Lại Đà, và tộc Nguyễn Phú Lại Đà vào Đà Nẵng dự giỗ tổ tộc Nguyễn Phú Yến Nê.

Các bậc trưởng lão hai tộc họp bàn và dần dần đi đến kết luận: Ngài Nguyễn Phú Văn (tức Nguyễn Tôn Công) là người họ Nguyễn Phú Lại Đà, vào thế kỉ XV từ Cối Giang (Lại Đà) vượt sông Đuống, sông Hồng đến đầu quân tại Thăng Long dưới triều Hậu Lê, sau đó theo Vua Lê Thánh Tông bình Chiêm rồi ở lại khai dân lập ấp.

Ngài thuộc thế hệ “viễn tổ thất truyền”, như tộc phả tộc Nguyễn Phú Lại Đà lập thế kỉ XVII đã ghi “bất ký viễn tổ”; cũng như trong phổ hệ tộc Nguyễn Phú Yến Nê, đã không có điều kiện tìm được tiên tổ ngoài Bắc, mà chỉ chép từ ông tổ khai cơ lập nghiệp tại vùng đất mới Quảng Nam Thừa Tuyên Đạo. Đó là lý do phổ hệ hai tộc trước đây không thể hiện được mối quan hệ anh em.

Với kết luận trên, các bậc trưởng lão hai tộc Nguyễn Phú Lại Đà và Nguyễn Phú Yến Nê đi đến quyết định ký Bản Minh Định, theo đó hai tộc này là anh em đồng tộc, cùng một tổ tiên sinh ra trên đất Cối Giang, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, lộ Bắc Giang xưa, tức là thôn Lại Đà, xã Hội Phụ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Kinh Bắc cũ), ngày nay là thôn Lại Đà, xã Đông Hội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Theo Bản Minh Định, tộc Nguyễn Phú Lại Đà là chi trên, tộc Nguyễn Phú Yến Nê là chi dưới.

Bản Minh Định được ký vào ngày 24-5-2000. Những người ký tên vào Bản Minh Định là đại diện tiêu biểu cho hai tộc Nguyễn Phú Lại Đà và Nguyễn Phú Yến Nê. Cả hai tộc coi ngày này là một ngày lịch sử của dòng họ Nguyễn Phú thống nhất gồm chi gốc ở Hà Nội và chi anh em ở Đà Nẵng.

Đoàn viên sau 500 năm là một câu chuyện có hậu của hai tộc Nguyễn Phú Lại Đà và Nguyễn Phú Yến Nê. Âu cũng là điều hợp lòng người, thuận ý trời và là một biểu hiện sinh động của chân lý “Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một”.

Trần Duy Hiển

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top