“Bài ca đỉnh núi”

0 Hà Ly
(ANTĐ) - Mèo Vạc là huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang. Việc mang cái chữ đến nơi này cũng không ít gian nan do nhiều nơi, đồng bào dân tộc còn chưa ý thức được ý nghĩa của sự học, cộng với địa hình 100%  núi đá hiểm trở, đi lại khó khăn, thời tiết khắc nghiệt… Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, giáo dục ở Mèo Vạc đang từng ngày khởi sắc. ở đây có không ít câu chuyện cảm động về những giáo viên vùng cao “cắm bản” để “gieo” chữ… 

“Bài ca đỉnh núi”

(ANTĐ) - Mèo Vạc là huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang. Việc mang cái chữ đến nơi này cũng không ít gian nan do nhiều nơi, đồng bào dân tộc còn chưa ý thức được ý nghĩa của sự học, cộng với địa hình 100%  núi đá hiểm trở, đi lại khó khăn, thời tiết khắc nghiệt… Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, giáo dục ở Mèo Vạc đang từng ngày khởi sắc. ở đây có không ít câu chuyện cảm động về những giáo viên vùng cao “cắm bản” để “gieo” chữ… 

“Xóa mù” cho cao nguyên đá

Chỉ một vài năm trước, Mèo Vạc còn là “điểm trắng” về giáo dục ở Hà Giang. Tỉ lệ học sinh đi học chỉ đạt trung bình 60-65%. Tình trạng thiếu giáo viên, thiếu trường lớp, học sinh bỏ học đồng loạt… xảy ra phổ biến. Tỉ lệ mù chữ cao nhất tỉnh. Thế nhưng, trong những năm gần đây, với chủ trương xóa “điểm trắng” giáo dục của tỉnh, huyện Mèo Vạc được chú ý đặc biệt.

Trường lớp được xây dựng thêm, giáo viên được tăng cường, chính sách hỗ trợ được mở rộng… Đặc biệt, sau khi áp dụng mô hình bán trú dân nuôi, nội trú dân nuôi (thực hiện đầu tiên ở xã Giàng Chu Phìn), giáo dục Mèo Vạc đã có bước thay đổi đáng kể. Công tác xóa mù chữ đã nhanh chóng hoàn thành. Năm 2007, Mèo Vạc là huyện cuối cùng của Hà Giang hoàn thành phổ cập giáo dục THCS.

Lớp học ở điểm trường Mã Pì Lèng (Pả Vi) chỉ là những thanh tre, gỗ dựng tạm

Bà Ngô Thị Thanh Minh - Trưởng phòng Giáo dục huyện Mèo Vạc cho biết: “Tới nay, Mèo Vạc đã thoát khỏi danh mục “điểm trắng” của tỉnh. Tỉ lệ đi học trung bình đạt trên 90%. Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn là 100%. Năm 2008, huyện có 3 học sinh đỗ đại học. Tuy vậy, Mèo Vạc vẫn còn rất nhiều khó khăn để phát triển giáo dục. Một số điểm trường vẫn thiếu giáo viên (bậc mầm non thiếu tới gần 100 giáo viên), nhiều nơi giáo viên vẫn phải dạy hai trình độ, dạy lớp ghép. Một số xã vùng biên như Sơn Vĩ, Xín Cái, Thượng Phùng, cơ sở vật chất còn rất thiếu thốn”.

Mặc dù còn nhiều khó khăn song giáo dục Mèo Vạc vẫn kiên quyết chống bệnh thành tích, thực hiện tốt cuộc vận động “hai không”. Không xảy ra chuyện học sinh không biết đọc, biết viết vẫn cho lên lớp. Chúng tôi đã làm phép thử để kiểm tra chất lượng học sinh tại một số điểm trường Mã Pì Lèng, Pả Vi, Giàng Chu Phìn… bằng một số phép tính, bài đọc trong sách giáo khoa. Kết quả, hầu hết các em đều có thể đọc, viết, làm toán…

Chuyện của những giáo viên “cắm bản”

Có được thành tích trên chính là nhờ sự đóng góp rất lớn của những giáo viên “cắm bản” vùng cao. Công việc thường xuyên, cũng là công việc vất vả nhất của họ chính là việc đi bản, vận động học sinh tới lớp. ở Mèo Vạc, với hơn 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số thì công việc ấy càng gian nan hơn. Vốn chỉ quen với núi đá và ngô sắn, một số nơi, đồng bào còn chưa nhận thức được ý nghĩa của cái chữ nên không muốn cho con cái đi học.

Đặc biệt cứ vào mùa đông, thời tiết giá rét, hay vào mùa làm nương (tháng 2 đến tháng 4), học sinh lại bỏ học hàng loạt. Tỉ lệ học sinh duy trì hàng ngày chỉ đạt 60%. Để tránh “đóng cửa trường”, giáo viên lại phải đến từng nóc nhà để “kéo” học sinh tới lớp.

Bữa ăn hàng ngày của học sinh nội trú dân nuôi ở vùng cao Mèo Vạc

Cô Trần Thị Phượng, chủ nhiệm lớp 3, cụm trường Mã Pì Lèng (xã Pả Vi), quê Vĩnh Phúc đã “cắm bản” ở đây được 13 năm, cho biết: “Do địa hình chia cắt, nhiều núi đá hiểm trở nên rất nhiều học sinh “ngại” tới trường. Bởi vậy, tuần nào giáo viên cũng phải 2-3 lần tới bản vận động. Vào mùa tra ngô thì gần như ngày nào cũng phải lên nương để gọi học sinh.

Những ngày mùa đông, thời tiết vùng cao rét buốt, giáo viên cũng phải xách dép lần theo rìa sông Nho Quế để đến các thôn bản. Một số thôn xóm: Há Súa, Xà Lủng, Khó Tấu… còn chưa có đường đi, giáo viên phải men theo vách núi đá, đi bộ 3-4 giờ mới đến. Có người đi được nửa đường thì bàn chân đã tứa máu vì bị đá tai mèo cắt ngọt. Có người nửa đêm vẫn ở trên núi vì mệt, không đi được nữa”.

Đi vận động, rất nhiều khi các giáo viên gặp phải thái độ bất hợp tác từ phía cha mẹ học sinh. Chuyện một số gia đình đóng cửa, không tiếp chuyện… xảy ra thường xuyên. Cũng có gia đình mang theo con lên nương dựng lều lán, ở luôn đó cho tới hết mùa nương mới về.

Thầy giáo Tăng Xuân Chiến, trường Tiểu học Giàng Chu Phìn kể lại: “Một lần, tới vận động em Sùng Thị Say (xóm Nia Do - Giàng Chu Phìn) đi học, dù đã đi cùng với đoàn cán bộ xã song vẫn bị bố mẹ Say thả chó ra xua đuổi. Cuối cùng nhờ kiên trì thuyết phục, sau nhiều lần đi lại, bố mẹ Say cũng chịu cho con tới lớp với điều kiện “thầy giáo chờ cho hết mùa ngô đã”. Cũng có trường hợp, cứ hôm trước đến vận động, hôm sau lại nghỉ học”.

Phần lớn giáo viên “cắm bản” ở đây đều còn rất trẻ, chủ yếu từ các tỉnh dưới xuôi lên: Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên… Lần đầu đến với vùng cao, không ít người còn bỡ ngỡ. Cô giáo Đặng Bích Hợp, trường Tiểu học Giàng Chu Phìn tâm sự: “Những ngày đầu mới lên, cứ hết giờ, rời khỏi lớp là lại lên mỏm đá sau trường ngồi khóc. Cuộc sống vất vả, thiếu thốn, cộng thêm việc nhớ nhà nên lúc nào cũng chỉ muốn bỏ về. Phải mất gần 1 năm mới làm quen được”.

Cuộc sống của những giáo viên “cắm bản” vùng cao còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Tới cuối năm 2008, một số điểm trường mới bắt đầu xây dựng nhà công vụ cho giáo viên. Dự kiến phải hết năm 2009 mới có thể hoàn thành. Các giáo viên vẫn phải ở tạm trong những lớp học, hay những mái nhà nứa lá dựng tạm.

Một số nơi còn chưa có điện, giáo viên phải soạn bài dưới ánh đèn dầu. Tình trạng thiếu nước sinh hoạt ngày càng nghiêm trọng, hàng tuần phải mua nước dưới xuôi rồi vận chuyển lên. Giao thông đi lại cực kì khó khăn, sóng viễn thông nhiều nơi không có, thời tiết khắc nghiệt… tất cả như đang cản bước những người giáo viên “cắm bản”.

Có một điều lạ, mặc dù khó khăn, vất vả là thế nhưng không một ai có ý định về xuôi. Cái khó, cái khổ ở nơi này lại là động lực giữ chân họ lại. Có người đã xây dựng gia đình rồi trở thành người vùng cao, có người vẫn lẻ bóng vì chốn núi đá ít có cơ hội gặp gỡ, làm quen… Thế nhưng tất cả vẫn miệt mài, tận tụy, từng ngày “gieo” chữ cho cao nguyên đá. Nói như đồng bào người Mông ở đây, họ chính là “bài ca đỉnh núi”.

Hà Ly

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top