Cuộc đời của người đàn bà trong kỳ án buôn trâu

500 ngày tù và giấc mơ

1 Tiểu Linh
ANTĐ Ba năm tù giam vì tội “tiêu thụ trâu gian” đã biến một người đàn bà hạnh phúc thành một kẻ trắng tay. Để ngày trở về, mẹ mất, chồng mất, các con di tản đi khắp nơi ở đỡ cho người  khác. Khi tìm được con về, bà phải đối diện với một sự thực, một sự thực vô cùng cay đắng đang hiện diện trước mắt mình: không nhà ở, không áo quần, không tiền bạc… Vậy nhưng người đàn bà ấy dắt con lên rừng để làm lại cuộc đời! Bà là Nguyễn Thị Vân, ở Kỳ Sơn, Hòa Bình. 
ảnh 1

Quá khứ 

Bà sinh năm 1940 ở Đông Anh - Hà Nội, là con lớn trong một gia đình 9 anh chị em. Dù gia đình ở cách trung tâm Hà Nội có vài chục cây số nhưng vì nhà đông anh em mà ruộng ít nên cuộc sống rất khó khăn nên mới 17 tuổi,  mẹ bà vội gả chồng cho con. Lúc đó, trong suy nghĩ của người mẹ nghèo khó, gả con để đỡ một miệng ăn trong nhà. Hiểu nỗi khổ tâm của mẹ nên bà không bao giờ trách mẹ nửa lời mà vẫn nhắm mắt đưa chân. 9 năm lấy chồng là 9 năm gian khó, cuộc sống cũng không khá hơn thuở còn sống với bố mẹ. Năm 1968, vợ chồng bà bàn nhau “đi tìm vùng đất mới” với suy nghĩ không thể cam chịu cuộc sống khổ sở, mình có sức lực, mình có đôi bàn tay thì khó mấy mình cũng làm được. Sau suốt một thời gian dài  bàn bạc, suy tính họ quyết định lên Hòa Bình. Vậy là vợ chồng con cái dắt díu nhau đi. Cuộc ra đi ấy đầy sự hy vọng nhưng cũng không thiếu nước mắt. 

Lên nơi ở mới, hai vợ chồng chẳng nề hà việc gì. Trồng ngô, trồng sắn, trồng khoai, trồng mía để bán. Khi thấy bán mía tươi rẻ quá, bà lại bàn với chồng mua máy về tự kéo để lấy mật. Sự lao động cần cù ấy đã được đền bù xứng đáng khi càng ngày, những món đồ xuất hiện trong căn nhà nhỏ nhiều hơn. Rồi có ti vi đen trắng, có giường gỗ, tủ gỗ và còn xây được căn nhà khang trang.

Khi đã có của ăn của để. Bà lại bàn với chồng đi buôn trâu. Biết là rất mạo hiểm, trong khi trong tay vốn liếng không có, nhưng vì muốn có cuộc sống khấm khá hơn, muốn cho đời con mình đỡ khổ hơn đời mình nên người đàn bà đầy nghị lực đấy đã bước thêm tới một quyết định nữa. Nhưng trớ trêu thay, cũng chính từ quyết định đi buôn trâu này mà cuộc đời bà lại rẽ sang một ngã rẽ khác.

Vào tù

Gom góp vay mượn và cắm nhà lấy vốn, mua được 21 con trâu đưa về xuôi. Khi xe chở bầy trâu đi đến địa phận tỉnh Vĩnh Phúc thì bị giữ lại kiểm tra vì trước đó, công an Vĩnh Phúc vừa khám phá một vụ trộm 7 con trâu, người ta khai bán cho bà, thế là bị bắt. Lúc bấy giờ, làm thịt con lợn còn phải xin phép huống hồ 1/3 số trâu trên xe bà mua được lại của dân ăn cắp, dẫu bà không biết đó là trâu trộm cắp, nhưng pháp luật là pháp luật và  bà phải chấp nhận. Trong hồ sơ khai báo của mình bà cũng bày tỏ “toàn bộ số trâu tôi mua của nhiều người. Tôi cũng không biết đâu là trâu của họ, đâu là trâu ăn cắp vì không có dấu má gì cả. Bây giờ người ta khai, thì tôi đành phải chịu chứ không biết làm gì”. Vụ ấy, kẻ trộm trâu bị xử 6 năm ngồi bóc lịch còn bà bị xử 3 năm và được đưa đi cải tạo ở trại giam Tam Đảo. Vậy là bao nhiêu vốn liếng mất hết. 

Vào tù được vài tháng bà nhận được tin mẹ ốm nặng qua đời. Nỗi đau mất người thân là nỗi đau không gì bù đắp được. Chưa qua nỗi đau mất mẹ, bà lại đón thêm nỗi đau mất chồng.  Trong câu chuyện với tôi, bà kể lại rằng, khi đó ở trong trại bà như người mất hồn, nhiều khi bà tâm sự với người quản giáo rồi bật khóc: “Không biết hai đứa con em ở với ai”... Người quản giáo đã động viên bà: “nếu chị thương con, hãy cải tạo thật tốt để được giảm án về với các cháu”. Nghe người quản giáo  khuyên vậy bà cũng lẳng lặng ngậm ngùi  chứ ở trong hoàn cảnh ấy mới thấy hết sự cùng cực của một con người. Sau nhiều đêm đau đớn vật lộn, mất ăn mất ngủ, bà đã nhận ra “chỉ có cách làm theo lời khuyên của người quản giáo mới cho một kết quả tốt nhất”. Nghĩ vậy nên ngày hôm sau, bà lên gặp cán bộ xin nhận một trại chăn nuôi với cam kết sẽ cung cấp đủ thức ăn cho tù nhân toàn trại. Được sự đồng ý của Ban giám thị, bà bắt tay vào ngay. Đôi bàn tay chai sần của bà đã từng vượt qua bao nhiều khó khăn, chẳng lẽ bây giờ đành chịu.  Bà lăn ra làm đậu, nấu rượu rồi lấy bã ấy mang đi nuôi lợn, nuôi gà, vịt, ngan… và đếm từng ngày được ra trại để đi tìm con. Nếu như trước đây, trại giam phải bỏ tiền ra mua thức ăn thì từ ngày bà chăn nuôi, thức ăn luôn được cung cấp đầy đủ. Với thành tích lao động xuất sắc cộng với cải tạo tốt, bà được xét đặc xá trước thời hạn gần hai năm.

Lên rừng 

Sau hơn 500 ngày ăn cơm tù, trở về quê khi căn nhà đã bị chiếm mất, hai đứa con (con trai lớn 13 và con gái nhỏ 11) đang đi ở cho người ta. Bà phải đi khắp nơi mới tìm được các con về. Ban đầu, đứa con gái không chịu đi theo bà, nó xấu hổ khi biết mẹ vừa ở tù ra, bà và con trai thuyết phục mãi, cô bé mới chịu nghe lời. Ba mẹ con dắt nhau vào khu rừng tận cùng của huyện Kỳ Sơn quyết chí làm lại từ đầu. Một vùng đất hoang sơ, từng có người lên khai hoang nhưng vì quá nhiều thú rừng nên đành bỏ lại. Nhìn bước chân run rẩy của các con, tim bà nhói đau như có hàng nghìn mũi kim châm vào.

Thế nhưng, vừa ra tù về, không một xu dính túi, không một sự hỗ trợ thân quen, lại phải đối mặt với cái nhìn thiếu thiện cảm của mọi người, chỉ có nơi hoang sơ như thế, chỉ có nơi không ai dám đặt chân đến như thế, mẹ con bà mới có thể an tâm làm lại cuộc đời. 

Đến bây giờ khi nhớ lại bà vẫn chưa hết hãi hùng và không thể tưởng tượng được tại sao lúc đó bà lại can đảm dắt 2 đứa con nhỏ đến một nơi như thế. Đêm, ba mẹ con ngồi dưới gốc cây khế, nghe tiếng beo kêu hổ gầm không mà dám thở mạnh. Rồi khi sợ quá ôm nhau ngủ lúc nào không biết. Sáng hôm sau tỉnh dậy, lại dắt díu nhau lên rừng chặt lá, sau ba ngày thì dựng xong một cái lều bên dòng suối. Những ngày tiếp theo là sự vất vả khốn cùng. Không có tiền, bà đánh liều ra khu dân cư vay tiền nhưng không ai cho. Giận lắm nhưng “họ làm vậy cũng đúng, ai mà tin được một người vừa ra tù, vay rồi lấy gì trả?”. Không vay được tiền để mua gạo và thức ăn, mấy mẹ con nhặt nhạnh lá cây trên rừng nấu ăn. Rồi bà cùng cậu con trai nắn dòng suối trước nhà, đào rộng hai bên, đắp đập làm thành ao và chờ khi có tiền sẽ thả cá. Phần dưới ao nước cạn dùng để cấy lúa. 

Sáng mồng 1 Tết, thiên hạ quần là áo lượt đi chúc Tết, mấy mẹ con bà vẫn cặm cụi vét bùn đưa lên cao để bắc mạ. Trưa nghỉ tay ăn cơm, nhìn khuôn mặt lấm lem của hai con, nhìn đôi tay non nớt bốc bùn mà xót xa. Rồi bảo hai đứa nhỏ: - “thôi, các con đi chơi một chút, mẹ ở nhà làm cũng được”. Đứa con trai bảo: - Chúng con ở nhà làm cùng mẹ để sau này có lúa bán mua cho mẹ một bộ quần áo mới”. Bà lắc đầu bảo “mẹ thì không quan trọng, cái chính là các con”. Rồi thuyết phục mãi hai anh em mới chịu dắt díu nhau xuống núi.  
Khi con đi rồi, bà lại xuống ruộng bốc bùn. Bộ quần áo lấm lem. Bà tự nhủ “tối giặt khô mai lại mặc tiếp”. Hồi bà đi tù, anh em họ hàng ở quê nghèo rớt nên cũng chẳng ai giúp được gì.

Ngày ra tù, chỉ có duy nhất một bộ quần áo do bà hàng xóm cho, đêm về giặt phơi, sáng dậy lại mặc. Những hôm trời mưa, quần áo cứ dâm dấp, mặc vào rất khó chịu nhưng không còn cách nào khác. Dù chỉ có một bộ đồ nhưng chưa bao giờ bà để quần áo mình bẩn cả. Gần hai tháng sau bà mới có đủ tiền để mua thêm một bộ quần áo mới. 

Qua xuân, bà cùng các con chặt cây lấy đất, xin cây sắn về trồng, vay lạc, ngô, sắn để gieo. Khi mùa về, sắn bán được một ít, còn ngô khoai sắn lạc thì mang một ít đi trả nợ, số còn lại bà chở lên thị trấn, bán từng ít một để kiếm thêm mấy đồng. Qua vụ mùa ấy, bà có một ít vốn nên mua một lúc 10 chú lợn con để nuôi. Cứ 3 giờ sáng dậy nấu rượu, khi hai nồi rượu xong thì gác bã lại, lên rừng tiếp tục khai hoang. Đêm về, lấy cám pha với bã rượu, đổ vào chuồng. Nhờ mát tay, bầy lợn của bà lớn nhanh khủng khiếp, con nào con nấy cứ tròn trùng trục, các bác lái buôn vì thế cũng rất thích vào mua lợn của bà. Cũng bắt đầu từ đây, cuộc sống khấm khá dần lên, bà không tự mình làm việc vườn nữa mà quay ra thuê hẳn người trông nom và làm việc. 

Cuộc đời mới

Bà cũng nghĩ rằng, sau những thăng trầm của số phận, đây là lúc an hưởng tuổi già với các cháu con. Thế nhưng, con gái lấy chồng xa. Con trai lấy vợ được mấy năm thì mất, vợ bỏ đi, để lại cho bà đứa cháu nhỏ côi cút và đáng thương. Nghĩ cả đời mình đã nuôi con mồ côi, giờ đến lượt nuôi cháu mồ côi. Suốt từ lớp 1 cho đến lớp 7, ngày nào bà cũng dậy sớm, đưa đón cháu đi học. Bà muốn cháu bà mỗi khi bước ra cổng trường là nhìn thấy bà để cháu bớt tủi thân vì thế  chưa một ngày nào bà lỗi hẹn với cháu dù mưa hay nắng. Mỗi buổi sáng trước khi ra đường, bà lại chắp tay cầu nguyện trời hôm ấy không mưa vì nếu mưa thì không thể đến trường bởi con đường dốc cao lại rất trơn. Có lần đi qua, bà ngã lăn xuống dưới dốc, khi lồm cồm bò dậy, sờ khắp thân thể thấy mình còn sống là mãn nguyện rồi. Sau đó, bà nhặt đá và làm lại đoạn đường trơn trượt này. Cho đến nay, người ta vẫn gọi con đường ấy là đường bà Vân.

Cho đến nay, với 47 ha đất rừng trồng toàn keo và quế, có thời gian thu hoạch 6 năm một lần, tính trung bình mỗi ha thu về khoảng 80 triệu, đấy là chưa kể hoa quả quanh vườn, ao cá với những con cá có khi lên đến vài chục cân. Vào thời vụ, số công nhân có khi lên đến 47 người, tất cả đều làm việc hăng say và được trả lương theo tháng. Bà yêu thương tất cả công nhân, và coi họ như người trong nhà. Từ vườn cây này, đã có 6, 7 đôi uyên ương nên duyên chồng vợ. Bà tổ chức đám cưới cho họ, chụp ảnh, quay phim và làm hết trách nhiệm như một người bà lo cho cháu khi chúng trưởng thành. Bà bảo rằng, vì không có một hạnh phúc riêng từ thời trẻ, tuổi thơ không được một ngày vui nên bây giờ thấy người khác hạnh phúc, có đôi có lứa bà cũng thấy mình hạnh phúc hơn và được an ủi phần nào. 

Bây giờ, cũng có những cặp vợ chồng về quê làm ăn, cũng có người đã thành ông chủ, thi thoảng lại dắt díu con cháu lên chơi và thăm bà - đó là một niềm vui tuổi già mà ông trời đã ban tặng cho bà. Nếu có cặp vợ chồng nào muốn ở lại lập nghiệp trên mảnh đất này, bà sẵn sàng hướng dẫn cách làm ăn và cho vay vốn để trang trải khó khăn lúc đầu. Có người đến đây nghiện rất nặng nhưng rồi bà khuyên bảo và làm mối cho, có gia đình rồi tập trung vào công việc thế là cai nghiện được. 

Giờ đây, không phải lo miếng cơm manh áo. Cuộc sống sung túc nhưng bà vẫn không quên những năm tháng cơ cực đã qua. Căn nhà ba tầng ngự trị trên ngọn đồi kia chính là sự hội tụ của mồ hôi, nước mắt cũng như máu thịt và sự đắng cay suốt một thời trẻ, nhưng bà đã vượt qua tất cả để có ngày hôm nay, để vững tin bước chân ra ngoài mà không bị mọi người khinh bỉ - đó mới là cuộc sống mà ông trời đã không nỡ lấy hết của bà.

bình luận(1 bình luận)

20x20Đỗ Thị Ánh

Thật cảm động và đáng khâm phục nghị lực phi thường của Bà...Bà là người đáng để lớp trẻ như chúng cháu bây giờ phải học hỏi và kính trọng

Cùng chuyên mục
Top