Vướng lao lý vì cho người chưa đủ 18 tuổi mượn xe máy gây tai nạn chết người

0 ANTĐ
ANTD.VN - Nguyễn Quang T (17 tuổi) là hàng xóm của gia đình anh Vũ Hoàng S (SN 1979). T mượn xe máy của anh S (loại xe có dung tích trên 50cm3) để đi chợ. Anh S nghĩ là T chỉ đi một quãng đường ngắn từ nhà ra chợ nên đã đồng ý cho mượn dù biết T chưa đủ tuổi để điều khiển loại xe có dung tích trên 50cm3. Trong quá trình điểu khiển xe, T đã đâm phải một người đi xe đạp ngược chiều khiến người này bị ngã đập đầu xuống đường và tử vong. Vấn đề đặt ra là, trong trường hợp này hành vi cho Nguyễn Quang T mượn xe gây tai nạn chết người của anh Vũ Hoàng S có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Nếu có, anh S đã phạm tội gì?

Ý kiến bạn đọc

ảnh 1Ảnh minh họa

Không phạm tội

Theo tôi, trong vụ việc này anh Vũ Hoàng S không phạm tội. Việc Nguyễn Quang T gây tai nạn khiến 1 người đi xe đạp ngã đập đầu xuống đường dẫn đến tử vong thì cần phải truy cứu trách nhiệm của T. Anh S không phải là người điều khiển phương tiện, không trực tiếp gây ra vụ tai nạn nên không phải chịu trách nhiệm. Ở đây việc anh S cho T mượn xe một phần là vì T là hàng xóm nên anh S đã biết rõ T có khả năng điều khiển được phương tiện, một phần khác là quãng đường từ nhà ra chợ ngắn nên T có thể xử lý được. Tôi cho rằng anh S do quá tin tưởng T nên mới cho mượn xe. Vì vậy không nên đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh S.

Nguyễn Thu Hương (Sơn Tây, Hà Nội)

Chỉ bị xử phạt hành chính

Theo nội dung vụ việc, anh Vũ Hoàng S biết rõ Nguyễn Quang T chưa đủ tuổi để tham gia giao thông nhưng vẫn giao xe máy cho T mượn để tham gia giao thông để rồi T đã gây ra tai nạn. Tôi cho rằng, việc làm của anh S chỉ vi phạm hành chính và sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP. Mức phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1, Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ. Còn việc T gây ra tai nạn thì cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T, anh S theo tôi không có trách nhiệm liên quan.

Bùi Tuấn Anh (Thanh Hà, Hải Dương)

Phạm tội hình sự

Tôi cho rằng, xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ. Theo quy định của pháp luật, những người điều khiển xe máy có dung tích động cơ từ 50cm3 trở lên khi tham gia giao thông bắt buộc phải được cấp Giấy phép lái xe. Nếu khi chưa được đào tạo và chưa được cấp Giấy phép lái xe nhưng đã tham gia điều khiển phương tiện là vi phạm Luật Giao thông đường bộ. Còn việc chưa có giấy phép lái xe nhưng lại gây ra tai nạn dẫn đến chết người là vi phạm Luật Hình sự và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc người chủ xe máy giao cho người chưa đủ năng lực, trách nhiệm quản lý nguồn nguy hiểm cao độ để rồi sau đó xảy ra tai nạn, theo tôi cũng cần phải bị xử lý trách nhiệm hình sự. 

Nguyễn Mạnh Hùng (Hạ Hòa, Phú Thọ) 

Bình luận của luật sư

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 tại khoản 1, Điều 58 quy định rõ điều kiện để một người lái xe tham gia giao thông là phải đủ độ tuổi, sức khỏe theo luật định và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Về độ tuổi của người lái xe máy, khoản 1, Điều 60 Luật này quy định: Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50cm3. Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô 2 bánh, xe mô tô 3 bánh có dung tích xi-lanh từ 50cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự. Căn cứ vào nội dung vụ việc thì Nguyễn Quang T không đủ điều kiện để sử dụng chiếc xe máy của anh Vũ Hoàng S tham giao giao thông. Anh S biết rõ T không đủ điều kiện điều khiển xe máy nhưng vẫn giao xe cho T điều khiển và sau đó T đã gây tai nạn chết người. Như vậy, trong trường hợp này cần phải phân biệt rõ trách nhiệm cũng như việc bồi thường thiệt hại của người chủ sở hữu chiếc xe là anh S và người điều khiển phương tiện là T. 

Thứ nhất, về trách nhiệm của T, như đã nói ở trên, T không đủ điều kiện để tham gia giao thông. Trong quá trình điểu khiển xe máy T đã đâm phải một người đi xe đạp ngược chiều khiến người này bị ngã dẫn đến tử vong. Trường hợp của T đã đủ dấu hiệu cấu thành tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015. Mặc dù T mới 17 tuổi nhưng sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bởi theo quy định của pháp luật thì người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Tuy nhiên, theo Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015 quy định, mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với T không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định. Theo đó, tại điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có Giấy phép lái xe theo quy định.

Thứ hai, về trách nhiệm của chủ xe là anh S, theo nội dung vụ việc, anh S đã có hành vi giao xe máy cho T dù biết là T chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật. Khi tham gia giao thông T đã gây tai nạn dẫn đến hậu quả chết người. Theo đó trách nhiệm của Vũ Hoàng S như sau:

Về trách nhiệm hành chính: Cá nhân giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông sẽ bị xử phạt hành chính theo điểm đ, khoản 5, Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP: Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1, Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng).

Về trách nhiệm hình sự: Việc anh S đồng ý cho T mượn xe máy dù biết là T chưa đủ tuổi để tham gia giao thông sau đó T gây tai nạn chết người đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Theo đó, người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có Giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà làm chết người thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: khoản 1, Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Như vậy, theo quy định trên, anh T là người phải bồi thường thiệt hại. Do T chưa đủ 18 tuổi theo quy định tại Điều 606 Bộ luật Dân sự 2015 thì nếu có tài sản riêng thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, không đủ thì cha mẹ sẽ bù vào để bồi thường. Nếu có người giám hộ thì người giám hộ dùng tài sản của người chưa đủ 18 tuổi bồi thường, nếu không có thì bồi thường bằng tài sản của người giám hộ. Đối với anh S là chủ xe, do xe máy là nguôn nguy hiểm cao độ, khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì cũng phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Luật sư Đoàn Mạnh Hùng, Văn phòng luật sư Hùng Mạnh

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top