Thêm hành lang pháp lý vững chắc trong đấu tranh, xử lý tội phạm rửa tiền

0 Trịnh Tuyến
ANTD.VN - Tội phạm rửa tiền tuy mới xuất hiện nhưng rất tinh vi và có thể lợi dụng thói quen sử dụng tiền mặt của người dân để che giấu tiền “bẩn”. Do đó, cần thiết phải có hướng dẫn để thống nhất biện pháp xử lý loại tội phạm này.

Ngày 31-5, tại Hà Nội, TAND Tối cao phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức Lễ công bố Nghị quyết 03/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 324 của BLHS về tội “Rửa tiền”.

Theo đơn vị tổ chức, tại nước ta, tội phạm rửa tiền đang có những diễn biến phức tạp và tác động xấu tới nền kinh tế, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Công tác phòng chống tội phạm thời gian qua cho thấy, xã hội đã có nhiều hình thức rửa tiền tinh vi.

Chúng có thể lợi dụng thói quen dùng tiền mặt của người dân để mua tài sản có giá trị cao như bất động sản, ô tô, vàng bạc… rồi nhờ người khác đứng tên, cất giấu nhằm hợp thức hóa nguồn tiền “bẩn”.

ảnh 1

Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình phát biểu tại Lễ công bố Nghị quyết 03/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.

Tại lễ công bố, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình đánh giá, tội phạm rửa tiền đã xuất hiện trên thế giới từ lâu và các nước có kinh nghiệm trong việc đấu tranh, xử lý loại tội phạm này. Tuy nhiên, ở Việt Nam, rửa tiền là loại tội phạm mới nên cần hoàn thiện về mặt khoa học pháp lý.

Ban hành Nghị quyết 03/2019 sẽ tạo ra một hành lang pháp lý thuận tiện nhằm thống nhất xử lý loại tội phạm rửa tiền – loại tội liên quan tới hầu hết các loại tội phạm nguồn như ma túy, tham nhũng, lừa đảo, cướp tài sản…

Chánh án TAND Tối cao nói thêm: “Việc này thể hiện cam kết của chúng ta về thực thi công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm... Ngoài ra, các chế định tài chính quốc tế còn căn cứ vào việc thực thi quy định chống rửa tiền để xếp hạng các tổ chức tài chính. Vì vậy, việc ban hành nghị quyết không chỉ có ý nghĩa trong chống rửa tiền, nó còn có ý nghĩa trong nâng cao uy tín các chế định tài chính của Việt Nam”.

Cũng tại buổi lễ công bố, đại diện TAND Tối cao đã chính thức công bố Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐTP (có hiệu lực từ 7/7/2019). Đại diện cơ quan tư pháp trung ương khuyến nghị, các cá nhân, tổ chức quan tâm có thể tìm hiểu cụ thể tại Cổng thông tin điện tử TAND Tối cao.

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: 

a) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có; 

b) Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác; 

c) Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó; 

d) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có. 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: 

a) Có tổ chức; 

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; 

c) Phạm tội 02 lần trở lên; 

d) Có tính chất chuyên nghiệp; 

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; 

e) Tiền, tài sản phạm tội trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; 

g) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; 

h) Tái phạm nguy hiểm. 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm: 

a) Tiền, tài sản phạm tội trị giá 500.000.000 đồng trở lên; 

b) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; 

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia. 

4. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. 

6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: 

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng; 

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g và h khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng; 

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm; 

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; 

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top