Người bị phạt tù đang hưởng án treo được quyền thay đổi nơi sinh sống

0 ANTĐ
ANTD.VN - Bạn đọc hỏi: Tôi đang mang án tù treo. Vì bản án này mà tôi thấy thiếu tự tin, không thể làm việc được ở nơi tôi đang sống. Tôi có thể đến sinh sống ở nơi khác không? Hà Trung Thành (Hải Phòng)

ảnh 1Luật sư Giang Hồng Thanh - VPLS Giang Thanh Địa chỉ: Số 197 phố Đặng Tiến Đông, Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội

Luật sư trả lời: Điều 32, Luật Cư trú năm 2006 quy định về khai báo tạm vắng như sau: “Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng”.

Tiếp đến: “Người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ 3 tháng trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng. Người quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều này phải khai báo tạm vắng tại Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú. Khi đến khai báo tạm vắng phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân và ghi vào phiếu khai báo tạm vắng. Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hướng dẫn nội dung khai báo, kiểm tra nội dung khai báo, ký xác nhận vào phần phiếu cấp cho người khai báo tạm vắng.”

Cùng với quy định nêu trên thì tại khoản 3, Điều 22, Thông tư 35/2014/TT-BCA quy định: “Người khai báo tạm vắng thuộc khoản 1, Điều 32, Luật Cư trú khi khai báo tạm vắng phải có sự đồng ý bằng văn bản của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền giám sát, quản lý người đó”… Như vậy, người đang chấp hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo vẫn có quyền được chuyển nơi sinh sống nhưng phải trong phạm vi quốc gia. Tuy nhiên, khi đến sinh sống tại nơi ở mới, bạn phải làm thủ tục đăng ký tạm trú.

Trong khi đó, khoản 2, Điều 30, Luật Cư trú năm 2006 quy định về đăng ký tạm trú là: “Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn”.

Hồ sơ đăng ký tạm trú gồm: Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu (đối với các trường hợp phải khai bản khai nhân khẩu); Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp theo quy định tại Điều 6, Nghị định số 31/2014/NĐ-CP (trừ trường hợp được chủ hộ có sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú đồng ý cho đăng ký tạm trú thì không cần xuất trình giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp).

Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý cho đăng ký tạm trú vào chỗ ở của mình và ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên; trường hợp người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đã có ý kiến bằng văn bản đồng ý cho đăng ký tạm trú vào chỗ ở của mình thì không phải ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu. Ngoài ra, người đăng ký tạm trú còn phải xuất trình chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó thường trú.

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top