Hạnh phúc giản đơn của 2 con người muốn làm lại cuộc đời

  • 05/04/2015 07:13
  • 0 bình luận
  • Song Đông
  • In bài
ANTĐ - Đều là những con người có quá khứ tội lỗi, thế nhưng họ đã tìm thấy nhau trên hành trình hướng thiện. Họ đến với nhau bằng tình thương yêu chân thành, cùng động viên nhau xây dựng một cuộc đời mới trên mảnh đất nghèo. Và trời không phụ lòng người, họ đã có một gia đình với những hạnh phúc thật giản đơn. Đó là câu chuyện của vợ chồng ông Trần Văn Tuấn (SN 1953) và bà Lê Thị Thủy (SN 1958), trú thôn Lộc Mỹ, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.
Ông Tuấn và bà Thủy kể chuyện đời mình

Ông Tuấn và bà Thủy kể chuyện đời mình


Quá khứ lầm lạc

Ông Trần Văn Tuấn quê gốc ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông là con thứ 2 trong gia đình có 4 anh em. Cuộc sống ở quê nghèo vốn đã cơ cực, lại sinh ra đúng thời chiến tranh loạn lạc triền miên nên cả nhà ông phải gồng mình nương tựa nhau mà sống. Năm ông Tuấn 15 tuổi, cả 4 anh em ông mất đi chỗ dựa khi ba mẹ ông qua đời. Ông và các anh em của mình phải sống nhờ vào sự cưu mang của họ hàng, làng xóm. Lớn hơn một chút, ông Tuấn bắt đầu bỏ quê đi lang bạt để kiếm cơm. 



Ông Tuấn không nhớ nổi mình đã lang thang đến bao nhiêu nơi, làm bao nhiêu nghề để mưu sinh. Thế nhưng sau giải phóng, ông và một số người bạn của mình bắt đầu sống trong những tháng ngày tệ nạn. Tiền do lao động hoặc do làm ăn bất minh mà có, ông theo bạn bè nướng hết vào rượu chè, cờ bạc... Sống triền miên trong những chuỗi ngày tưởng chừng không có lối thoát, nhưng ngã rẽ cuộc đời đến với ông vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Sau những tháng ngày dài đốt tuổi xuân vào những thứ vô bổ, ông bị bắt và bắt đầu hành trình làm lại cuộc đời.



Lúc ấy, chàng trai nông dân chân chất xưa kia đã trông dạn dày sương gió. Trong một lần cũng như bao lần trước đó, đám bạn rủ ông đến chốn “lầu xanh” để giải khuây. Trong túi vừa kiếm được một khoản kha khá, không chút ngần ngừ ông đồng ý luôn. Vậy là cả bọn cùng đi đến con phố “sầm uất” nhất thời bấy giờ ở Đà Thành để “đổi gió”. Không may cho ông là hôm đó có chiến dịch truy quét các ổ chứa mại dâm của công an TP Đà Nẵng. Ông Tuấn bị bắt và đưa lên trại phục hồi nhân phẩm, hiện nay là Trung tâm Giáo dục dạy nghề 05 - 06, TP Đà Nẵng. 



Năm 1982, ông Tuấn gặp bà Lê Thị Thủy trong lúc đi lao động trong trại. Thấy bà Thủy ưa nhìn, ông Tuấn bắt đầu để ý. Qua tìm hiểu ông biết, bà Thủy sinh ra trong một gia đình ở TP Hà Tĩnh. Cũng từng có một tuổi thơ cơ cực, lớn lên một chút bà đã phải ra ngoài mưu sinh. Do phải phụ giúp bố mẹ nuôi các em, bà sớm trở nên già đời với nghề buôn bán dọc các tỉnh miền Trung (tất nhiên là buôn bán trái phép vì đang là thời kỳ bao cấp). Những chuyến xe, chuyến tàu từ Đà Nẵng ra Hà Tĩnh hồi đó đều được người phụ nữ này tận dụng để vận chuyển hàng hóa “chui” một cách tài tình. 



Những thứ đồ bà buôn bán chỉ là những đồ phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt thường ngày tuy nhiên chúng không có giấy tờ gì cả. Đối với thời kỳ xã hội lúc bấy giờ, việc “buôn lậu” như của bà là hành vi rất đáng lên án. Cho đến năm 24 tuổi, bà Thủy đã thực hiện nhiều phi vụ trót lọt, bà rất tự tin vào tài ứng biến của mình. Thế nhưng bà cũng chẳng thể ngờ được rằng công an kinh tế hồi đó đã đưa bà vào tầm ngắm. Bà Thủy bị bắt trong một chuyến vận chuyển nón từ Đà Nẵng về TP Hà Tĩnh. Trại giáo dục xã hội ở TP Đà Nẵng chào đón thêm một học viên nữ. 



Ấy là sơ lược quá khứ không mấy tốt đẹp của hai mảnh đời mà giờ đây đã trở thành vợ chồng. Họ sống trong một căn nhà chẳng phải to đẹp gì thế nhưng đối với họ thế là đủ. Ở đây, lương tâm họ được thanh thản, không phải sống trong tâm trạng bất an của những tháng ngày lỗi lầm trong quá khứ. Khách hỏi đến chuyện ngày xưa hai người đến với nhau ra sao, thì cả hai vợ chồng đều cười. Họ kể lại chuyện tình cảm của mình ngượng ngùng như hồi mới yêu nhau. 



Gây dựng hạnh phúc bằng 2 bàn tay trắng

Ông Tuấn năm nay đã ngoài 60 tuổi, hơn 30 năm ở đất Hòa Bắc này đã khiến ông trở lại là một người nông dân chất phác. Ông cười hiền hòa nhắc lại những kỷ niệm của vợ chồng ngày mới quen nhau: “Hồi đầu tôi thấy bà dễ thương, nổi nhất trong nhóm lao động nữ. Mặc dù tính bà ấy đôi khi có hơi đáo để chút nhưng thấy bà hay hay nên muốn lân la làm quen. Không chỉ có tôi, mấy anh em trong trại cũng tăm tia bà ấy. Hồi đó bả khó lắm, tôi nhiều lần tỏ tình nhưng bả đều gạt phăng. Nhưng tôi quyết tâm lấy bả làm vợ nên tấn công tới cùng”. 


Vậy là cứ mỗi lần lao động, ông Tuấn đều kiếm cớ để được làm gần bà Thủy. Ông chẳng khéo nói chuyện, tán gái thế nhưng cứ có việc gì nặng là ông đều giúp bà Thủy làm hết. Với chiến dịch “mưa dầm thấm lâu” ấy, hai năm sau bà Thủy đồng ý làm vợ của ông Tuấn. Năm 1984, một đám cưới giản đơn được tổ chức trong trung tâm tác thành cho hai người. Nói là một đám cưới cho oai, chứ nó cũng chỉ là một bữa cơm bình thường gọi là cái lễ để tác hợp, để hai người chính thức trở thành vợ chồng.



“Vào trại giáo dưỡng này toàn là những người có quá khứ lầm lạc. Tôi chẳng dám nghĩ đến chuyện mình sẽ có một gia đình, thế nên hồi ông tán tỉnh, hỏi cưới mấy lần mà tôi không đồng ý. Sau quen được cạnh ông rồi, nảy sinh tình cảm lúc nào không hay. Rồi có lúc nhìn lại thấy mình cũng không còn trẻ gì nên chấp nhận làm vợ ông. Có lẽ là do trời xe duyên cho tôi được gặp ông”, bà Thủy tâm sự. 



Cưới xong, hai vợ chồng ông Tuấn, bà Thủy ra ngoài trại, họ được trung tâm cho một mảnh đất để dựng một túp lều nhỏ ngay trong thôn Lộc Mỹ. Bữa cơm thời gian đầu chỉ toàn khoai với sắn. Vất vả là thế, nhưng hai vợ chồng luôn động viên nhau làm việc. Ông Tuấn có sức khỏe, ai thuê làm bất cứ việc gì dù nặng nhọc đến đâu ông cũng nhận. Không ai mướn thì ông lên núi đốn củi, chặt mây về bán. Bà Thủy cũng theo những người trong làng đi làm củi, về bán, đổi lấy đồ ăn. Những ngày mưa không có việc, vợ chồng ăn rau rừng chấm nước muối pha loãng. Không ai nói ra nhưng họ âu lo, sợ sẽ có người không chịu nổi cuộc sống khó khăn bủa vây để quay lại với quá khứ đầy rẫy lỗi lầm. 



Thế nhưng ông Tuấn khẳng định: “Một lần lầm lỡ đã là sai phạm nghiêm trọng, tôi không muốn mình lại quay về con đường cũ”. Còn bà Thủy, không giấu giếm cũng tâm sự, nhiều khi khó khăn quá cũng đã có lúc bà nghĩ đến việc bỏ đi. Thế nhưng thấy nỗ lực của chồng, ý định đó lại tiêu tan. Rồi khi có người con gái đầu lòng làm cầu nối, ý nghĩ đó biến mất hoàn toàn. Bà chuyên tâm ở lại với ông, hai vợ chồng cùng các con gây dựng cuộc sống mới bằng những cố gắng miệt mài.



Tình yêu ở trong trại giáo dưỡng cùng thời với ông Tuấn, bà Thủy không phải hiếm. Có nhiều cặp vợ chồng mang trong mình quá khứ tội lỗi và họ tìm thấy nhau ở nơi giáo hóa họ. Tuy nhiên, nghị lực và tình yêu của mỗi cá nhân mới là chất keo gắn họ lại với nhau lâu dài. Ông Tuấn kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của một cặp vợ chồng cũng như ông bà vậy. Thế nhưng họ sớm chia tay nhau và quay trở lại với quá khứ lầm lỗi vì không chịu được kham khổ. Kể xong, ông đưa mắt nhìn vợ và những đứa con của mình. Chắc hẳn người đàn ông ấy nghĩ mình thật may mắn.



Một kết thúc có hậu cho những nỗ lực làm lại cuộc đời bằng sức lao động chân chính. Ông Tuấn và bà Thủy đã có một gia đình thật hạnh phúc, nó được làm nên bằng những điều giản dị. Hai người con gái lớn của họ đã lấy chồng và có gia đình riêng. Hai người con trai nhỏ mặc dù phải thôi học do hoàn cảnh khó khăn nhưng đều biết yêu thương cha mẹ. Công việc lao động trong gia đình đã được những đứa con san sẻ bớt. Ông Tuấn nở nụ cười mãn nguyện vì ông biết đã có chỗ dựa khi tuổi già sắp bủa vây vợ chồng ông.  


Tin cùng chuyên mục