Vì sao thưa vắng người xem?

0 Nguyễn Thị Minh Thái
(ANTĐ) - Hôm nay, thực tế vắng người xem ở Hà Nội - Thủ đô của thể loại kịch nói, du nhập qua con đường giao lưu văn hóa Đông - Tây, bằng chính sự xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp, ngay từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, đã và đang là một sự thật “đắng”.

Sân khấu kịch Thủ đô            

Vì sao thưa vắng người xem?

(ANTĐ) - Hôm nay, thực tế vắng người xem ở Hà Nội - Thủ đô của thể loại kịch nói, du nhập qua con đường giao lưu văn hóa Đông - Tây, bằng chính sự xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp, ngay từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, đã và đang là một sự thật “đắng”.

Vắng người xem kịch ở Hà Nội - một thực trạng

Mà Hà Nội Thủ đô, lại là chỗ trũng nhất về văn hóa, nơi mọi dòng chảy văn hóa cả nước đổ về, như dân gian nói: “Nước chảy chỗ trũng” và như Nguyễn Đình Thi tha thiết “nói” bằng âm nhạc không thể nào quên, trong ca khúc hào hùng “Người Hà Nội”: Đây hồ Gươm, Hồng Hà, hồ Tây. Đây lắng hồn núi sông ngàn năm …

Bởi vậy, người Hà Nội, từ đầu thế kỷ trước, đã ý thức văn hóa thật sâu sắc, trong cử chỉ “nội lực tự sinh”: bằng cách tự học, tự đọc, tự dịch từ tiếng Pháp, sang quốc ngữ, những kịch bản mẫu mực của văn chương kịch Pháp (tiêu biểu: Nguyễn Văn Vĩnh), tự mày mò học nghề đạo diễn, bằng cách “học lỏm” (Thế Lữ và ban kịch Thế Lữ, Anh Vũ), tự đào tạo lấy nghệ sĩ kịch (như Thế Lữ đào tạo Song Kim, sau nên vợ nên chồng, và đều thành NSND của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa), và nữa, tự học cách viết để thành nhà viết kịch chữ quốc ngữ đầu tiên (Vũ Đình Long và “ Chén thuốc độc”)…

Kết quả sáng chói nhất của quá trình tự đào tạo của sân khấu kịch Việt Nam hiện đại đầu thế kỷ XX, chính là một lớp công chúng đô thị biết thưởng thức kịch một cách nghệ thuật. Họ đã trở thành tiền đề văn hóa, đủ để “kích cầu”, tạo cái “hích” về văn hóa cho sự gia tăng và hoàn tất quá trình chuyên nghiệp hóa “hiện đại hóa” về mọi phương diện của thể loại “kịch nói”, (để phân biệt với kịch hát) Việt Nam, chỉ có thể xảy ra, và phát triển sống động sau 1954, khi Nhà nước Việt Nam cử những sinh viên đầu tiên đi học nghề đạo diễn theo phương pháp Xtanhixlavxki của sân khấu Nga Xô-viết, ở Trung Quốc.

Khi kịch Việt Nam trưởng thành về mọi phương diện, được đào tạo bài bản ở nước ngoài, ngay ở phương diện cơ bản nhất là đạo diễn như thế, thể loại kịch ở Việt Nam, vào nửa sau thế kỷ XX, đã có đích thực một dung dáng Việt Nam hiện đại, đã thực sự mang tính chuyên nghiệp, và quan trọng nhất, đã xuất hiện một công chúng “tri âm” của kịch, không những ở các đô thị, thành phố lớn, mà còn ở các vùng sâu, vùng xa, cũng xuất hiện công chúng mê say thể loại kịch. Và thế là, kịch “nói” đã thành món ăn sân khấu đầu bảng trong thưởng thức của công chúng hiện đại.

Sân khấu kịch từng là nơi tin cậy nhất trong việc phát hiện những vấn đề nóng của xã hội, từng là nơi đối thoại dân chủ với người xem đương thời, từng là nơi thiêng liêng như thánh đường, là nơi người xem hân hoan chen vai thích cánh, cốt mua cho được tấm vé vào xem những vở diễn hoàn chỉnh, chứa đựng những vấn đề thật xã hội thật đương thời, thật nhân bản, do những đạo diễn, diễn viên thật giỏi nghề, đã dàn dựng và biểu diễn kịch với tính chuyên nghiệp rất cao!

Thập kỷ 80 của thế kỷ trước, sân khấu kịch quả đã đạt tới một thập kỷ vàng son nhất. Những vở diễn lẫy lừng một thuở, là những minh chứng không thể phủ nhận cho một thời đỉnh cao của sân khấu kịch: Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Dòng sông ám ảnh, Đại đội trưởng của tôi, Tiếng hát tuyệt vời, Ngày và đêm, Sống mãi tuổi mười bảy, Bài ca Điện Biên, Mùa hè ở biển, Nhân danh công lý,  Tôi và chúng ta, Mùa hạ cuối cùng, Đỉnh cao mơ ước, Nguồn sáng trong đời, Vũ Như Tô, Rừng trúc…

Việc chuyển đổi kinh tế sang cơ chế mới, kinh tế thị trường, trong thập kỷ 90 cuối thế kỉ trước, đã khiến sân khấu kịch (ấy là chưa nói tới sân khấu kịch hát dân tộc) bàng hoàng và điêu đứng thất bát. Sân khấu kịch nhỏ lên ngôi, trở thành giải pháp tình thế, nhằm cứu vãn sân khấu, vốn quen sống trong vòng tay bao cấp toàn phần của Nhà nước. Sân khấu kịch đã phải tự bươn chải, tự bơi.

Các đơn vị sân khấu buộc phải rút gọn, tinh giản biên chế, thậm chí giải thể, vì không hoạt động nổi trong nhịp sống công nghiệp gấp gáp, trong sự bùng nổ các phương tiện truyền thông đại chúng, trong sự ra đời nhiều món nghệ thuật trình diễn đương đại mới mẻ, lạ lẫm, cuốn hút… trong bảng thực đơn thưởng thức, nhất là ở các thành phố lớn, khiến người xem phân tâm và phân tán. Người xem lý tưởng của thời bao cấp đã ra đi hoặc hầu hết ra đi. Xuất hiện một công chúng đương đại, thời kì đổi mới,  nhất là công chúng trẻ, với tất cả sự phức tạp và hệ lụy của thưởng thức mới.

Thoạt đầu, sân khấu nhỏ lên ngôi, và giải pháp “tình thế” này đã có  ngay hiệu quả. Vở kịch nhỏ Dạ cổ hoài lang của sân khấu “5B Võ Văn Tần” (là tên đầu tiên, tên hiện nay là Nhà hát Sân khấu Kịch nhỏ) của TP.HCM, trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, là một ví dụ điển hình của giải pháp này. Tuy nhiên, vì tính “tình thế” của chính giải pháp này, mà sân khấu nhỏ đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử của nó và tạo ra một khoảng trống cho một giải pháp khác, mang tính chiến lược nhằm vãn hồi được người xem,  như đã từng có của sân khấu kịch thời hoàng kim.

“Xã hội hóa” có phải là giải pháp sân khấu chiến lược?

Sân khấu Hà Nội đã sử dụng giải pháp “tình thế” này, ở ba đơn vị: Nhà hát Kịch Việt Nam, Nhà hát Kịch Hà Nội và Nhà hát Tuổi Trẻ. Cả ba nhà đều đã nỗ lực chống đỡ tình trạng thưa vắng người xem Thủ đô suốt hàng chục năm, vắt từ thập kỷ cuối thế kỷ XX sang năm nay là năm thứ 7 (2007) của thế kỷ XXI. Và, nếu xếp thứ tự cho “cuộc đi tìm người xem đã mất”, thì Nhà hát Tuổi Trẻ  đứng vị trí số một.

Trong khi các nhà hát khác đang lúng túng, chưa linh hoạt thích nghi với biến động phức tạp của thời tiết sân khấu, đang mất mùa khán giả dài dài, thì giải pháp chiến lược của Nhà hát Tuổi trẻ đã xác lập: phải đi vững vàng, trong thời kinh tế thị trường, bằng hai chân: chính kịch và hài kịch.

Và trong chính kịch, ưu tiên dựng những vở cổ điển của thế giới, và phải nhận hệ lụy: người xem còn thưa vắng. Không phải ngẫu nhiên, mỗi năm, Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng vài vở cổ điển, hoặc chính kịch: Macbecht, Lôi vũ, Con cáo và chùm nho, Nhà búp bê, Một trăm phút cuối cùng của Hàn Mặc Tử, Kiều Loan, Nhà có ba chị em gái, Quân bài định mệnh, Vườn Thiên đàng…

Về hài kịch, trước nhu cầu người xem đương đại, luôn muốn đổi món “lạ miệng”, và xem những tiểu phẩm sân khấu hài “ra tấm ra miếng”, Nhà hát Tuổi trẻ đã liên tục ra mắt các chùm hài kịch ngắn, phỏng theo hài kịch ngắn Trung Quốc, hoặc các tác phẩm văn xuôi Việt đương đại, nên đã nhanh chóng định danh thương hiệu số một của mình về loại này: Đời cười 1, 2, 3, 4, 5, 6…, là những sản phẩm cười nghiêng hẳn về giải trí cho người xem, mà khó nhà hát nào khác ở Thủ đô, có thể “qua mặt”…

Doanh thu những sản phẩm nghệ thuật hài ngắn này hàng năm luôn đạt tiền tỉ. Từ đó, Nhà hát Tuổi trẻ “lấy ngắn nuôi dài”, lấy tiền từ “Đời cười” để gánh đỡ cho các vở chính kịch không phải lúc nào cũng đông người xem… Ngoài ra, Nhà hát Tuổi trẻ còn có một bộ phận diễn viên, đạo diễn được chấp thuận dàn dựng và trình diễn vở diễn theo cung cách “xã hội hóa”, bởi các nguồn tiền do nghệ sĩ tự bỏ ra hoặc được tài trợ từ hoạt động giao lưu văn hóa với nước ngoài.

Trong Liên hoan sân khấu “xã hội hóa” ở TP.HCM suốt tháng 10-2006, Tuổi trẻ là nhà hát duy nhất từ Hà Nội tham gia hai vở diễn của NSND Lan Hương và NS Bích Ngọc: “Nhật nguyệt thực” và “Tiếng vọng hành tinh”, dù không “xã hội hóa” toàn phần như các vở khác của TP.HCM, nhưng đã gây được ấn tượng cho bạn nghề và người xem TP.HCM về một cách làm nghệ thuật khỏe mạnh, tự sinh nội lực, không ỷ lại vào “bầu sữa bao cấp” là Nhà nước.

Tham dự Liên hoan sân khấu xã hội hóa cuối 2006, và liền sau đó, tham gia một cách thành công, gây tranh luận quanh vở “Một trăm phút cuối cùng của Hàn Mặc Tử” tại Liên hoan Sân khấu thử nghiệm Quốc tế lần thứ 2 tại Hà Nội, cuối 2006, Nhà hát Tuổi trẻ đã hội đủ điều kiện để chuẩn bị cho mình một bước phát triển mới, có thể coi là bước chuyển sau sự kiện Việt Nam gia nhập WTO.

Đầu năm 2007, NSND Lê Hùng chính thức được bổ nhiệm Giám đốc Nhà hát Tuổi trẻ. Vị giám đốc - đạo diễn đầy lửa, dồi dào năng lực này đã chính thức hoàn tất (việc mà ông đã khởi động từ vài năm nay, cùng với thành lập Đoàn kịch hình thể là đoàn thứ ba, do NSND Lan Hương làm Trưởng đoàn.

Hai đoàn 1,2 do hai NSƯT Anh Tú, Chí Trung làm trưởng đoàn) công cuộc đưa một ngôn ngữ mới vào dàn dựng và biểu diễn ở nhà hát của mình: ngôn ngữ kịch hình thể. Cũng vào thời điểm này, Nhà hát Tuổi trẻ đã được Nhà nước chọn làm vai trò tiên phong trong thử nghiệm sân khấu xã hội hóa một đơn vị sân khấu Nhà nước, cùng với Nhà hát Ca Múa Nhạc kịch Việt Nam. Giám đốc, NSND Trần Bình, cũng là nhà quản lý năng động, đã khéo léo lái con thuyền nhà hát này, trong thời tiết thất thường của sân khấu ca nhạc thời kinh tế thị trường…

Thực chất của “xã hội hóa” sân khấu kịch chính là công cuộc thử nghiệm những ngôn ngữ mới bằng mọi liệu pháp đổi mới nghệ thuật, để lấy lại người xem đông đảo thuở nào. Nhà hát Tuổi trẻ đã nổi bật lên trong 3 nhà hát kịch ở Thủ đô Hà Nội, bằng sự gắng gỏi đã tìm ra ngôn ngữ kịch hình thể có lẽ là ngôn ngữ ưu thế nhất để dàn dựng và biểu diễn các kịch bản cổ điển, nhất là của nước ngoài.

Nghe tin Bộ VH-DL-TT đã chú ý đặc biệt đến thử nghiệm mới này của Nhà hát Tuổi trẻ và đã cho đó là chiến lược phát triển phù hợp với tinh thần “xã hội hóa” hoạt động sân khấu. Giám đốc Lê Hùng đã ước ao và được Bộ VH-TT-DL bật đèn xanh: Mỗi năm Nhà nước sẽ đặt hàng NHTT 3, 4 vở kịch kinh điển trong 100 tác phẩm kịch kinh điển thế giới do NXB Sân khấu ra mắt từ 2006.

Theo Lê Hùng, dựng kịch bản kinh điển thế giới bằng ngôn ngữ kịch hình thể sẽ là phương tiện tốt nhất để có thể giao lưu văn hóa bằng nghệ thuật sân khấu. Vả chăng, sân khấu bao giờ cũng là bộ mặt biểu cảm nhất của một nền văn hóa dân tộc.

Về phương pháp, đây thực sự là giải pháp chiến lược cho bước phát triển mới của Nhà hát Tuổi trẻ đầu thế kỷ XXI, và có lẽ không chỉ cho nhà hát này, trong  bước phát triển chung của sân khấu Hà Nội, những tháng năm sắp tới, nhất là khi Thăng Long - Hà Nội kỉ niệm một nghìn năm tuổi…

Nguyễn Thị Minh Thái

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top