Tiếng gọi thiết tha

0 Nhà văn Đỗ Chu ((Còn nữa))
(ANTĐ) - Bởi nhuận hai tháng 5 mà năm Kỷ Sửu có mười ba tháng, làm Tết Canh Dần chậm một tháng. Nhốt hai ngựa vào một tàu, cách tính thời gian của âm lịch khiến người và đào đều lúng túng. Sắp vào xuân, nhìn hoa lòng người thấy ngán ngẩm vì những cánh hoa buồn bã, nhung tuyết phôi pha hương sắc chả còn.

Tiếng gọi thiết tha

(ANTĐ) - Bởi nhuận hai tháng 5 mà năm Kỷ Sửu có mười ba tháng, làm Tết Canh Dần chậm một tháng. Nhốt hai ngựa vào một tàu, cách tính thời gian của âm lịch khiến người và đào đều lúng túng. Sắp vào xuân, nhìn hoa lòng người thấy ngán ngẩm vì những cánh hoa buồn bã, nhung tuyết phôi pha hương sắc chả còn.

>>> Tiếng gọi thiết tha

Tranh Trần Lưu Hậu trong bộ sưu tập của gallery NewAsia
tại Singapore

Nhưng cứ theo nếp cũ, đã Tết là mỗi nhà phải có một cành đào, chặt cả cây càng tốt. Cũng biết chơi thế là chơi gượng, đã gượng dễ thái quá mà thái quá là khó coi. Với ai chẳng vậy huống hồ là với các họa sĩ, anh Hậu là người yêu đào nay hóa người thương đào.

Thương một loài hoa đang bị người đời săn đuổi, chặt phá không thương tiếc ngoài đồng trong núi, nghe đâu đang mò sang cả nước bạn để tìm đào. Chăm cây đào mười năm, chặt tận gốc tha về thành phố chơi mười ngày rồi quẳng ra đường làm củi làm rác. Xưa mềm mại thanh cao mà nay sao hóa ăn xổi ở thì, người như có cơ hóa phũ.

Càng có tuổi Trần Lưu Hậu càng thèm khát những chuyến đi. Anh ra đảo vẽ biển, lên Sa Pa vẽ núi. Muốn sao những nơi ấy đất trời còn khoáng đạt, người còn thuần phác. Anh đến đó là để được sống nốt những năm cuối đời trong yên tĩnh, ngày ngày đổ sơn lên toan mà vẽ.

Vẽ thật nhiều, vẽ như điên, vẽ cho hả lòng hả dạ, vẽ để hả yêu hả giận. Tưởng là để quên tháng quên năm mà thực ra lại là để sống cùng năm tháng, cùng nhân dân của mình. Giữa cuộc đời rộng lớn anh tìm ra lửa, trong cô đơn đạp lên mọi thách thức, bằng một nội lực ngày càng vững vàng, anh, một họa sĩ chân đất đã bước nhanh đến thềm cao của sự bùng nổ sáng tạo.

Anh đã kiêu hãnh mang về cho bầu không khí buồn tẻ của đời sống văn nghệ một sự thật đầy sức thuyết phục, hay đúng hơn anh đã mang lại cho chúng ta một chân lý giản dị nhưng không dễ với tới, đó là những phòng tranh thấm hơi thở mạnh của thời đại, đủ sức lay động bất kỳ ai. Và đó là những giá trị làm nên một Trần Lưu Hậu.

Con người và tác phẩm Trần Lưu Hậu mà giờ đây chúng ta muốn tiếp cận là hai mặt không tách rời của một hiện thực nghệ thuật, nói như Thái Bá Vân nhà phê bình nổi tiếng đã quá cố, bạn cố tri của anh, thì đây là một hiện thực khi nó không phải là cái để ta có thể nhìn bằng mắt, mà là cái ta cần phải biết quan niệm bằng tâm tưởng.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, lúc đó anh tròn mười bảy, chưa kịp thi Diplome thì thời thế đổi thay, anh bỏ học gia nhập tự vệ, giữ trật tự đường phố. Đúng ra anh đã không đến trường từ mấy tháng trước đó, Nhật Pháp bắn nhau rồi nạn đói từ đâu ập đến, anh được bạn bè gọi đi đẩy xe cút kít chở người chết ra nghĩa địa.

Có người đàn ông giữa trưa vịn tay lên hàng rào sắt chết cứng. Có người đàn bà nằm ôm con nhỏ, đứa bé nhoài nhau vú mẹ, bầu vú khô khốc chảy dài. Anh gỡ đứa bé ra khỏi cánh tay đã lạnh ngắt của người mẹ, không cầm được nước mắt.

Đó là những giọt nước mắt của cậu học trò con nhà giàu lần đầu dấn thân va chạm vào một thực tế đau đớn, lần đầu đứng trước một câu hỏi khắc nghiệt và cũng lần đầu phải trả lời một cách nghiêm trang. Mười bảy tuổi cậu ấm Trần Lưu Hậu trở thành đội viên Việt Minh. Có anh chỉ huy mũ calô đính sao vàng, áo trấn thủ trao cho Hậu một thanh mã tấu ngày ngày đứng gác trước cổng gò Đống Đa.

Nhà anh ngay gần đó trong khu Thái Hà ấp. Một ngôi nhà hai tầng kiến trúc theo lối Pháp thuộc địa, có dáng tân cổ giao duyên mái cong như mái đình mái chùa. Những vòm cửa sổ và cửa ra vào đều cuốn tròn, cao và rộng. Sân trước là khu vườn lớn có những luống hồng và những cây hoàng lan cổ thụ.

Sân sau có bể nước, nhà bếp và gara ôtô. Ngoài cổng có gắn biển vila Hà Trang, anh cũng chả hiểu nghĩa là gì. Cạnh nhà anh, một bên là vila đốc tờ Hoàng Cơ Bình còn một bên là vila Bùi Huy Tín. Đi mấy bước nữa là nhà ông chú ruột anh Trần Lưu Vinh, cũng làm tham biện tòa sứ; sau đó, chuyển qua ty địa chính Hà Nội, là con rể của thượng thư Bùi Bằng Đoàn.

Kể kỹ như vậy để hiểu nếu Trần Lưu Hậu đi với cách mạng thì không phải vì đói khổ mà vì đã trông thấy dân mình đói khổ, mà một khi dân khổ thì nước nhục, mà nước nhục thì bản thân mình cũng nhục. Cái lý ban đầu của một cuộc lên đường đơn giản chỉ có thế và hình như cũng đã là quá đủ.

Đêm 19 tháng 12 năm 1946 Bác Hồ đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đại bác nổ ầm ầm, súng các cỡ vang rền năm cửa ô, ánh lửa chói lòa trong khu phố cổ. Hậu vẫn cứ đứng gác trước cổng đền với một cây mã tấu, trong khi anh em bắt đầu vác gỗ vác giường tủ vác bàn thờ ở các nhà ra đường dựng chiến lũy.

Vài hôm sau anh chỉ huy đội tự vệ gọi Hậu ra mà bảo nhiệm vụ của chú đến đây đã xong, chúng mình có lệnh ở lại cầm chân địch, riêng chú phải đi ngay qua Vĩnh Yên nhận công tác ở ty tuyên truyền, mang lá thư giới thiệu của mình gửi anh Nguyễn Hữu Hạp đang phụ trách trên ấy.

Ông Hạp là Trưởng ty Thông tin - Tuyên truyền, một trí thức cách mạng lăn lộn và năng động, rất giỏi đoàn kết anh em, lại là người nhân ái biết dìu dắt bọn trẻ. Ông người gốc Hải Dương, là cháu cụ giáo Nguyễn Hữu Tạo, thầy của Hậu hồi nhỏ. Về sau anh còn có nhiều dịp gặp lại ông, trước khi nghỉ hưu ông chuyển sang Bộ Nông Nghiệp làm gì đó mấy năm.

Tháng 10 năm 1949 chính ông đã ký quyết định cử anh khăn gói lên Chiêm Hóa thi vào lớp Mỹ thuật kháng chiến. Họa sĩ Tô Ngọc Vân vừa làm hiệu trưởng vừa làm thầy trực tiếp giảng dạy, cạnh ông là các họa sĩ khác như thầy Cẩn, thầy Tỵ, thầy Sỹ Ngọc… Đều được đào tạo từ lò Mỹ thuật Đông Dương ra cả.

Thêm một vui mừng nữa, anh đã có nhiều bạn đồng khoa rất tài năng để mình có thể học hỏi, đấy là Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm, Mai Long, Linh Chi, Lê Huy Hòa, Lê Lam, Lê Nguyên Lợi, Trần Đông Lương, Ngô Tôn Đệ… Lại còn có cả chị Thục Phi là con gái bà Thục Viên một nữ trí thức yêu nước.

(Còn nữa)

Nhà văn Đỗ Chu

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top