Một đời với Chèo!

0 QUÂN TRẦN     
(ANTĐ) - Năm 1957, khi đang công tác tại Đoàn Ca múa Trung ương, chàng thanh niên Bùi Đức Hạnh đã xin phép lên đoàn ca múa tự trị Thái Mèo (Sơn La). Và trên đường đi sưu tầm dân ca Mường, Thái ở vùng đất Tây Bắc, chàng thanh niên 23 tuổi đã hữu duyên gặp được tứ thơ của nhà thơ Cầm Giang - tâm hồn được mở cửa, tình yêu đôi lứa dừng chân nơi thiên nhiên hữu tình và cứ thế để “Em là dòng sông Mã, anh là núi Mường Hung, anh là rừng xanh thẳm, em là suối ngàn sâu…” một cách nhân bản vút bay.

Một đời với Chèo!

(ANTĐ) - Năm 1957, khi đang công tác tại Đoàn Ca múa Trung ương, chàng thanh niên Bùi Đức Hạnh đã xin phép lên đoàn ca múa tự trị Thái Mèo (Sơn La). Và trên đường đi sưu tầm dân ca Mường, Thái ở vùng đất Tây Bắc, chàng thanh niên 23 tuổi đã hữu duyên gặp được tứ thơ của nhà thơ Cầm Giang - tâm hồn được mở cửa, tình yêu đôi lứa dừng chân nơi thiên nhiên hữu tình và cứ thế để “Em là dòng sông Mã, anh là núi Mường Hung, anh là rừng xanh thẳm, em là suối ngàn sâu…” một cách nhân bản vút bay.

Nhạc sỹ, NSƯT Bùi Đức Hạnh
Ca khúc đầu tay của chàng trai còn đứng ngoài cửa ngõ tình yêu sao nồng đượm đến vậy “Em hãy về bên suối, đợi anh ở bên khuông, anh làm no lòng mường, em làm vui ấm bản”; để tình yêu, hòa bình, mùa xuân quyện hòa là một như đất trời “Bên nhau cùng sống vui êm đềm cùng núi rừng, đất nước hòa bình, hạnh phúc ta như mùa xuân”… Bây giờ, đã qua 50 mùa xuân “Tình ca Tây Bắc”, nhạc sỹ, NSƯT Bùi Đức Hạnh, nguyên Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam không khỏi xúc động khi nhớ về thời khắc của những tháng ngày ấy, ở đó, có niềm đam mê và hoài bão của tuổi trẻ, nó vẫn mãi nuôi dưỡng một tình yêu nghệ thuật, gắn kết với ông cho đến tận hôm nay…         

Âm nhạc đến với ông lạ vậy, nhưng nếu nói nửa thế kỷ qua ông gắn đời mình với nghệ thuật chèo quả không ngoa; và nếu nói cả một đời người ông đằng đẵng theo đuổi, thưởng thức, ngẫm, hiểu và chiêm nghiệm sức hấp dẫn của nghệ thuật Chèo lại càng đúng. Để đến tận bây giờ, ở độ tuổi ngoài 70 nhìn thấy, hơn chục năm ông nghỉ hưu, trong ông vẫn mãi thôi thúc một tình yêu vô bờ với Chèo. Ngày ấy, 5 chàng trai Trần Bảng, Hoàng Kiều, Hà Văn Cầu, Bùi Đức Hạnh, Hồ Ngọc Cẩn cùng 4 nghệ nhân lão thành là NSND Nguyễn Văn Thịnh (Trùm Thịnh), NSND Trịnh Thị Lan (Cả Tam), NSND Nguyễn Mầm (Lý Mầm), NSND Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ) hợp nhau lại lập nên Ban nghiên cứu Chèo. Công việc đầu tiên của ban là mời từ tứ chiếng những nghệ nhân Chèo còn lại, lần lượt tổ chức những đợt hội diễn nghiên cứu với mục đích sưu tầm ghi lại thành văn bản, băng ghi âm, phim ảnh, những tài liệu về nghệ thuật Chèo cổ và Chèo cải lương. Năm 1960, ông được ban giao cho công việc ghi âm làn điệu Chèo bằng ký âm pháp trực tiếp từ các nghệ nhân nổi danh thời bấy giờ để lưu giữ làm tư liệu giúp cho việc sáng tác, nghiên cứu, giảng dạy Chèo... “Việc ghi chép này ngoài năng khiếu còn phải nhịp vào hồn của các cụ, phải tìm nét ghi chuẩn nhất với cái luyến láy, nhịp phách... Hồi ấy chưa có máy móc hiện đại như bây giờ mà phải ghi sống, tức là các cụ hát từng câu rồi mình ghi chép lại, rồi hát lại cho các cụ nghe xem có đúng không. Cứ như thế, từng câu, từng đoạn rồi cả bài hát, khi nào cụ “ưng thuận” mới tiếp tục chuyển sang bài khác” - Nhạc sỹ, NSƯT Bùi Đức Hạnh rút lòng.

Những bậc "tiền bối" trong nghệ thuật Chèo

Ngồi với ông, bên cuốn sách “150 làn điệu Chèo cổ” dày tới hơn 600 trang hiện đã có mặt tại khắp các đoàn Chèo trên cả nước - một công trình, một đời người ông “nhả tơ” cho đời nhưng sao khiêm nhường đến vậy, nội dung của cuốn sách đã vượt ra khỏi khi sự bình dị con người ấy muốn giữ khi chỉ giới thiệu mình là người “sưu tầm và biên soạn”. Tôi hiểu, ông đam mê Chèo, yêu Chèo, để cứ thế từ năm 1960 đến năm 1964 ông đã ghi lại được khoảng 100 điệu. Đến khi nghỉ hưu, ông bắt tay vào làm cuốn sách, tập hợp và chỉnh lại những bản ghi năm xưa, bổ sung thêm 50 điệu từ thế hệ hát chèo sau này… “Hơn 50 năm làm chèo trên nhiều lĩnh vực, tôi vừa làm vừa học hỏi suy ngẫm... Có lúc tưởng như mình đã nắm bắt được nó, nhưng rồi lại để trượt khỏi tay. Thật là kỳ diệu, chỉ có mấy vuông chiếu cạp điều trống trơn trải trước cửa đình mà đã diễn ra biết bao điều sâu xa, bí ẩn: niềm vui, nỗi buồn, cái thiện, cái ác, những con người lúc tỉnh lúc say, những mảnh đời nhảy nhót tưởng như nghiêm trang mà cứ như đùa cợt... chẳng biết có tự bao giờ mà mê hoặc lòng người!... Đôi lúc trên đường đi đã nhìn thấy vệt sáng le lói nhưng đi mãi, đi mãi mà vẫn không sao tới đích. Hẳn vì con đường chèo khúc khuỷu, quanh co, núi non che khuất nên mình đã loạng choạng, lạc hướng rồi chăng?” - Lời đề tựa ông viết cho công trình nghiên cứu “Tìm hiểu âm nhạc sân khấu Chèo” ra đời năm 2005 đủ để thấy nghệ thuật Chèo nói riêng và nghệ thuật dân tộc nước ta có đủ độ “khó” để thử thách lòng người thế nào. Vậy để thấy các bậc tiền bối đi trước, những người như ông Bùi Đức Hạnh thật đáng trân trọng  với những đóng góp cụ thể hết sức quý giá khi quay ngược thời gian, kiếm tìm, sưu tầm, bảo tồn, phát triển văn hóa âm nhạc các tộc người Việt Nam; để mọi thế hệ sau này có quyền tự hào và có chung trách nhiệm lưu truyền, gìn giữ vốn quý của dân tộc.

QUÂN TRẦN     

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top