Ký ức dịu dàng

0 Phong Thu
(ANTĐ) - Đấy là những hình bóng, trang văn, bài thơ và tài năng đằm thắm, tình yêu cuộc sống, con người của các bà, các chị là nhà văn, nhà thơ, nhà báo xuất hiện và quần tụ ở Hà Nội từ những năm 1929-2000, trước còn lẻ tẻ từng người, sau dần dần đông đảo mãi lên mà không ít bút danh đã để lại xiết bao lưu luyến trong lòng người đọc.

Ký ức dịu dàng

(ANTĐ) - Đấy là những hình bóng, trang văn, bài thơ và tài năng đằm thắm, tình yêu cuộc sống, con người của các bà, các chị là nhà văn, nhà thơ, nhà báo xuất hiện và quần tụ ở Hà Nội từ những năm 1929-2000, trước còn lẻ tẻ từng người, sau dần dần đông đảo mãi lên mà không ít bút danh đã để lại xiết bao lưu luyến trong lòng người đọc.

Minh họa Bà Huyện Thanh Quan trong giai thoại
thay chồng phê chuyện mổ trâu

Có thể nói: Mỗi tác giả nữ là một đóa hoa mang duyên thầm, vẻ đẹp nhân ái dâng tặng cho đời, cho truyền thống của người phụ nữ cố đô Thăng Long yêu dấu. Nhiều tên phố ở Hà Nội đã gắn liền với tên nhà văn, nhà thơ, nhà báo nữ như những kỷ niệm thân thương trong ký ức giới văn nghệ sĩ.

Tạm kể từ nửa cuối thế kỷ 19, tiếng thơ từ các nữ sĩ đã cất lên thánh thót, uyển chuyển, long lanh, sắc bén, dũng cảm về vị trí, số phận của người phụ nữ Việt Nam.

Cũng tạm điểm từ ba cụ bà khi khấn đến tên, ai ai cũng nhớ:

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi” của Đoàn Thị Điểm

“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” của Bà Huyện Thanh Quan.

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” của Hồ Xuân Hương

Nhìn lại gần hơn, kể từ những năm đầu thế kỷ 20, đã có những nữ văn sĩ, thi sĩ làm báo gắn bó với Hà Nội như các bà:

1- Hằng Phương (1908-1983). Từ năm 1929 đã có thơ đăng trên các báo: Phụ nữ tân văn, Hà Nội tân văn, Ngày nay, Đàn bà, Tri tân… tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

2. Vân Đài (1903-1964) tên thật là Đào Thị Minh, quê ở Hà Nội. Có thơ được in sách từ năm 1943.

3. Ngân Giang (1916-2002) tên thật là Đỗ Thị Quế quê ở Thường Tín - Hà Nội. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1935, sau hoạt động văn học. Có thời gian in sách từ năm 1931.

4. Mộng Sơn (1916-1992) tên thật là Vũ Thị Mai Hương, quê ở Nam Định. Viết truyện. Nổi tiếng có truyện “Vượt cạn” (tên trước đó là “Họp chợ bụng”. Có sách in từ năm 1944.

5. Anh Thơ (1918-2005) tên thật là Vương Kiều Ân, quê ở Hải Dương. Năm 1941 có tập thơ “Bức tranh quê” được giải thưởng Tự lực văn đoàn.

6. Cẩm Lai (1923-2006) tên thật là Lê Thị Cẩm Lai, quê ở Hà Tĩnh. Làm thơ. Nổi tiếng từ tập thơ in chung với nhà thơ trẻ Xuân Quỳnh là tập “Tơ tằm - chồi biếc” (1963). Có thơ in sách từ năm 1947, có viết văn xuôi và tiểu thuyết.

Các bà đều là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957.

Đội ngũ nữ nhà văn, nhà thơ ở tuổi ít hơn các bà kể trên có mặt trong cuộc kháng chiến chống Pháp rồi tụ về Hà Nội sau năm 1954, từ ngày giải phóng Thủ đô đã đông hơn và xuất hiện rất có ấn tượng trong những thập kỷ 1950 tới bây giờ. Người đọc đã quen tên các tác giả như các chị Lê Minh, Cẩm Thạnh, Thanh Hương, Bích Thuận, Nguyệt Tú, Lý Thị Trung… Các chị là những cây bút sung sức viết lâu, viết nhiều, lẳng lặng, bền bỉ, cần mẫn cho đến tận hôm nay với các thể loại: tiểu thuyết, truyện ký, truyện ngắn…

Hầu hết các chị đều là cán bộ của Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, cán bộ Mặt trận liên Việt và cơ quan của Hội Văn nghệ Việt Nam. Thật là dũng cảm khi các chị vừa thực hiện thiên năng, sứ mệnh của người cán bộ, phụ nữ trong kháng chiến vừa thâm nhập thực tiễn để viết, sáng tác. Các chị Lê Minh, Bích Thuận còn viết truyện cho trẻ em. Trong thời gian gần đây, năm 2009, chị Bích Thuận, Thanh Hương, Lý Thị Trung vẫn xuất hiện trên một số tờ báo, tạp chí ở Thủ đô.

Trong kháng chiến chống Mỹ là thời điểm xuất hiện đông đảo các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, cây bút nữ. Đó là các chị Nguyễn Thị Như Trang, Vũ Thị Thường, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Ngọc Tú, Nguyễn Ngọc Hải, Lê Minh Khuê, Đoàn Lê, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Trần Thị Mỹ Hạnh, Phạm Hồ Thu Thu, Trần Thị Thắng, Ý Nhi, Thúy Bắc, Hoàng Thị Minh Khanh… Sang thập niên 1970 thêm các chị Nguyễn Thị Hồng Ngát, Hoàng Việt Hằng, Lê Phương Liên và một số chị chỉ xuất hiện một dạo rồi ngừng, thi thoảng mới thấy tên, thấy bài.

Từ 1976 trở về trước và những năm 1980, các nhà văn, nhà thơ nữ chiếm lĩnh văn đàn thật sôi nổi. Có hai chị Hồng, một chị là nhà thơ ở Nhà xuất bản Phụ nữ, một chị ở Nhà xuất bản Quân đội là nhà văn, biên tập, viết nghị luận. Nhà thơ Lệ Thu mặn mà nơi Hà Nội, sau năm 1976 mới vào miền Nam.

Trong thời gian làm báo, tôi hay đến chợ Hôm, chợ Đồng Xuân là được gặp một số chị cùng đi chợ hoặc ở hàng bún ốc. Nom các chị chẳng có vẻ gì là nhà văn, nhà thơ hết cả. Dạo còn cái máy nước ở ngã tư Phố Huế - Trần Nhân Tông, sáng sáng quãng 9, 10 giờ hay thấy chị Xuân Quỳnh ngồi giặt quần áo ở đây (những năm 1970-1980 cho đến năm chị mất - 1987).

Thật bình dị và bình lặng những nhân cách hiền hòa chịu thương chịu khó. Mỗi lần nhớ tới các bà, các chị, tôi lại thấy bồi hồi, miên man ký ức dịu dàng về các bà, các chị ở chốn kinh đô Thăng Long này.

Phong Thu

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top