Rút tiền từ thẻ tín dụng nhặt được, trộm cắp hay chiếm giữ tài sản trái phép?

0 PV
ANTD.VN - Ông Đinh Trọng H. (SN 1965) đến nhà ông Hoàng Quốc Đ. (SN 1966) chơi, do vô ý nên ông H. đã đánh rơi 1 thẻ tín dụng MasterCard còn nguyên bao bì tại nhà của ông Đ. Sau khi ông H. ra về, con của ông Đ. là Hoàng Quốc V. (SN 1990) nhặt được thẻ tín dụng của ông H. 

ảnh 1

Nội dung vụ việc

Ông H. sau đó đã đến nhà ông Đ. tìm thẻ và hỏi V. có nhặt được thẻ tín dụng của mình thì cho xin lại, nhưng V. nói không nhặt được. Ngay sau đó V. đã đi đến cây ATM, nhập mã PIN có sẵn trong phong bì thì thấy tổng số dư trong tài khoản là 40 triệu đồng nhưng V. chỉ rút được 25 triệu tiền mặt thì không rút được nữa. Sau khi biết có người rút tiền trong thẻ của mình, ông H. đã thông báo với ngân hàng. Cơ quan công an truy xuất lại hình ảnh camera tại cây ATM thì xác định được V. là người đã rút số tiền 25 triệu đồng của ông H.

Vấn đề đặt ra là với hành vi của mình, Hoàng Quốc V. đã phạm tội trộm cắp tài sản hay chiếm giữ tài sản trái phép?

Ý kiến bạn đọc

Chiếm giữ trái phép tài sản

Trong vụ việc này, hành vi của Hoàng Quốc V. đã phạm vào tội chiếm giữ trái phép tài sản của người khác theo Điều 176, Bộ luật Hình sự 2015. Khi V. tình cờ nhặt được thẻ tín dụng của ông Đinh Trọng H. thì V. thừa hiểu rằng chiếc thẻ này là tài sản của ông H. nhưng V. đã cố tình giữ lại với mục đích để rút tiền. Từ tài sản này của ông H., V. chiếm đoạt trái phép số tiền 25 triệu đồng trong thẻ tín dụng. Vì vậy, Hoàng Quốc V. phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép tài sản.

Đỗ Khánh Hà (TP Hội An - Quảng Nam)

Phạm tội trộm cắp tài sản

Hành vi của Hoàng Quốc V. đã phạm vào tội trộm cắp tài sản, vì khi V. nhặt được thẻ tín dụng của ông Đinh Trọng H. thì lúc đó V. đã có ý định chiếm đoạt giá trị tiền trong thẻ này, cho dù lúc đó V. chưa biết được số tiền trong thẻ là bao nhiêu. Ý đồ chiếm đoạt tiền trong thẻ của V. thể hiện rõ hơn khi ông H. quay lại gặp V. hỏi xem có nhặt được thẻ tín dụng của mình không thì H. phủ nhận việc đã nhặt được thẻ của ông này. Sau đó chính V. là người đi đến cây ATM để rút được số tiền 25 triệu đồng, điều này thể hiện sự lén lút của V. đối với ông H. Do đã lén lút chiếm đoạt số tiền 25 triệu đồng nên V. phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173, Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Trọng Tình (Phúc Thọ - Hà Nội)

Không phạm 2 tội trên

Trong vụ việc này, Hoàng Quốc V. chỉ tình cờ nhặt được thẻ tín dụng của ông Đinh Trọng H. Ông H. có tìm đến và hỏi V. có nhặt được thẻ không nhưng V. đã nói dối là không nhặt được. Theo tôi, bản thân thẻ tín dụng thì không có giá trị vì đó chỉ là 1 miếng nhựa do ngân hàng phát hành. Hơn nữa hành vi chiếm đoạt tiền trong thẻ tín dụng của V. thì không có sự lén lút nên theo tôi V. không phạm tội trộm cắp tài sản. Còn đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản của người khác, do thẻ tín dụng không có giá trị nên V. không phạm tội này.

  Đinh Quốc Thái (Bảo Thắng - Lào Cai)

Bình luận của luật sư

Trong vụ việc này, để trả lời được câu hỏi Hoàng Quốc V. phạm tội trộm cắp tài sản hay chiếm giữ tài sản trái phép, chúng ta cần phải trả lời được câu hỏi tài sản trong vụ việc này là chiếc thẻ tín dụng hay tiền gửi ở ngân hàng. Theo chúng tôi, tài sản trong giao dịch dân sự cũng như tài sản trong vụ án hình sự phải là tài sản quy định tại Điều 105, Bộ luật Dân sự hiện hành.

Điều 105 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Như vậy có 4 loại được xác định là tài sản. Đối với “vật, tiền” thì dễ thống nhất về nhận thức. Còn quyền tài sản được quy định tại Điều 115, Bộ luật Dân sự hiện hành như sau: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.

Đối với giấy tờ có giá thì tại điểm 8, Điều 6, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 16-6-2010 thì giấy tờ có giá “là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Theo quy định này thì giấy tờ có giá có thể là một trong các loại giấy tờ sau đây: Hối phiếu đòi nợ, Trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu công ty, Tín phiếu, Công trái, Các lại chứng khoán…

Như vậy, thẻ tín dụng không phải giấy tờ có giá nên không phải là tài sản. Nếu trường hợp Hoàng Quốc V. sau khi nhặt được thẻ tín dụng của ông Đinh Trọng H. mà không biết mã PIN nên không rút được tiền từ máy ATM của ngân hàng và ông H. không bị mất tài sản thì V. sẽ không phạm tội. Tuy nhiên, trên thực tế V. sau khi nhặt được thẻ tín dụng của ông H. đã biết được mã PIN và đã rút được tiền từ máy ATM của ngân hàng và ông H. bị mất tài sản nên hành vi của V. đã cấu thành tội phạm và V. đã chiếm đoạt số tiền  25 triệu đồng của ông H. một cách bất hợp pháp. 

Trong Bộ luật Hình sự, tội trộm cắp tài sản và tội chiếm giữ trái phép tài sản có những điểm giống và khác nhau. Về đặc điểm chung, cả 2 tội danh này đều có khách thể của tội phạm là quan hệ sở hữu; lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm giữ, đoạt được tài sản của người khác. Tuy nhiên, giữa hai tội danh này cũng có những điểm khác nhau cơ bản. 

Thứ nhất, về đối tượng của tội phạm. Đối tượng của tội trộm cắp tài sản là tài sản đang có chủ sở hữu như điện thoại trong túi, xe máy trong nhà… tài sản đang nằm trong khu vực quản lý, bảo quản như đồ trong công ty, tổ chức… hoặc tài sản có người bảo vệ trông coi hoặc không có như tài sản trong nhà kho, phân xưởng… Trong khi đó, đối tượng của tội chiếm giữ trái phép tài sản là những tài sản không có chủ hoặc chưa có chủ (như tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, giao nhầm…) hoặc là những tài sản chưa được phát hiện như kim khí quý, những vật báu còn trong lòng đất. 

Thứ hai, về hành vi khách quan. Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết.

Còn ở tội chiếm giữ trái phép tài sản thì người phạm tội có được tài sản là do ngẫu nhiên, có thể là do bị giao nhầm, nhặt được hoặc tìm được. Tuy nhiên sau khi có được tài sản, người phạm tội cố tình biến tài sản đó thành tài sản của mình một cách trái phép, thể hiện dưới dạng một trong các hành vi: không trả lại tài sản được giao nhầm cho chủ sở hữu; hoặc không giao nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tài sản mà mình bắt được, tìm được… mà tiếp tục chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản đó.

Quay trở lại vụ việc nói trên, dựa vào những điểm khác biệt trong cấu thành của 2 tội danh này, theo chúng tôi Hoàng Quốc V. không phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản. Bởi lẽ, như đã phân tích ở trên, chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cho cơ quan có trách nhiệm về tài sản do bị giao nhầm, do tìm được, bắt được sau khi đã có yêu cầu nhận lại tài sản đó.

Trong trường hợp này, V. nhặt được thẻ tín dụng và cố tình không trả lại, tuy nhiên, tài sản là thẻ tín dụng chứ không phải là số tiền trong thẻ tín dụng. Do thẻ tín dụng không có giá trị nên không thỏa mãn cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản của người khác theo Điều 176, Bộ luật Hình sự. Căn cứ nội dung vụ việc này thì hành vi của Hoàng Quốc V, đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo Điều 173, Bộ luật Hình sự 2015. Bởi lẽ, V. đã có hành vi lén lút rút trộm số tiền 25 triệu đồng của ông Đinh Trọng H.

Một trong các biểu hiện của tội phạm trộm cắp là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Theo quy định của pháp luật, “chiếm đoạt” là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình, còn “lén lút” là hành vi cố ý giấu giếm, vụng trộm không để lộ ra nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác; việc che giấu có thể là che giấu toàn bộ (với tất cả mọi người) hoặc công khai trước sự chứng kiến của nhiều người nhưng vẫn che giấu hành vi phạm tội với chủ tài sản…

Mặc dù, thẻ tín dụng đã bị mất nhưng tài sản trên vẫn thuộc quyền sở hữu của ông Đinh Trọng H. Khi ông H. nghi ngờ V. nhặt được thẻ tín dụng đã xin lại nhưng V. đã cố tình không trả. Ý thức chiếm đoạt tài sản của V. là ngay từ đầu. Do đó Hoàng Quốc V. phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173, Bộ luật Hình sự năm 2015.

Luật sư Đoàn Mạnh Hùng

(Văn phòng Luật sư Hùng Mạnh)

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top