Quyền từ chối cho thuê nhà

0 Nguyễn Hiệp Hào
(ANTĐ) - Hỏi: Trước khi kết hôn tôi được tặng cho một mảnh đất (có giấy tờ tặng cho hợp lệ) và tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi đã xây dựng nhà trên mảnh đất này. Đến nay vợ và các con tôi đã cho người khác thuê ngôi nhà trên (chỉ có hợp đồng miệng) mà không được sự đồng ý của tôi. Vậy tôi xin hỏi, là người đứng tên trong “sổ đỏ” khi không đồng ý cho thuê, tôi có quyền không cho người thuê nhà vào nhà của tôi không?

Quyền từ chối cho thuê nhà

(ANTĐ) - Hỏi: Trước khi kết hôn tôi được tặng cho một mảnh đất (có giấy tờ tặng cho hợp lệ) và tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi đã xây dựng nhà trên mảnh đất này. Đến nay vợ và các con tôi đã cho người khác thuê ngôi nhà trên (chỉ có hợp đồng miệng) mà không được sự đồng ý của tôi. Vậy tôi xin hỏi, là người đứng tên trong “sổ đỏ” khi không đồng ý cho thuê, tôi có quyền không cho người thuê nhà vào nhà của tôi không?

Nguyễn Hiệp Hào

(Ngõ 836 đường Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội)

Trả lời:  Tuy quyền sử dụng đất mà ông có được trước khi kết hôn là tài sản riêng của ông, nhưng ngôi nhà mà vợ chồng ông có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung vợ chồng. Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung vợ chồng như sau: “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận”.

Điều 492 Bộ luật Dân sự qui định về Hình thức hợp đồng thuê nhà ở “phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Điều 100 Luật Nhà ở năm 2005 quy định việc cho thuê nhà thuộc sở hữu chung như sau:

1. Việc cho thuê nhà ở thuộc sở hữu chung phải có sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu nhà ở đó, trừ trường hợp chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung cho thuê phần nhà ở thuộc sở hữu của mình.

2. Các chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung có thể thỏa thuận cử người đại diện ký hợp đồng cho thuê nhà ở.

Việc vợ và các con của ông đã tự ý cho người khác thuê nhà mà không có sự đồng ý của ông là trái với qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự và Luật Nhà ở vì đã vi phạm quyền sở hữu đối với tài sản chung vợ chồng, vi phạm về hình thức của hợp đồng thuê nhà.

Theo qui định tại khoản 2, điều 122 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì trong trường hợp pháp luật có quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì bắt buộc phải tuân thủ.

Vợ, con ông cho người khác thuê nhà mà không lập văn bản (hợp đồng bằng miệng) cũng như không có sự đồng ý của ông  là vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng bị coi là vô hiệu. Ông có quyền không cho người thuê nhà vào nhà của mình. Còn việc xử lý hợp đồng vô hiệu như thế nào sẽ theo quy định của pháp luật dân sự, trong đó có xem xét đến mức độ lỗi của các bên.

LS. Bạch Tuyết Hoa

(Văn phòng LS Phúc Thọ, 23 Hồ Đắc Di, Nam Đồng, Hà Nội)

bình luận(0 bình luận)

Cùng chuyên mục
Top